Triết học nghệ thuật

Mỹ học của Alhazen và Vitelo

 

MỸ HỌC CỦA ALHAZEN VÀ VITELO

 

WLADYSLAW TATARKIEWICZ (1886-1980)

 

 

1. MỘT XU HƯỚNG KHÁC TRONG MỸ HỌC THẾ KỶ XIII. Không phải toàn bộ mỹ học thế kỷ XIII đều là mỹ học Kinh viện. Còn có mỹ học của các nghệ sĩ và các nhà lý luận nghệ thuật nữa. Ngay trong chính mỹ học triết học, cũng đã xuất hiện một kiểu mỹ học khác, có tính tự trị hơn, ít lệ thuộc hơn vào các hệ thống triết học và thần học, giàu tính thường nghiệm hơn, chuyên biệt hơn và mang tính mô tả hơn. Ít nhất trong chừng mực nào đó, đó là mỹ học của Hugh xứ St. Victor, của Robert Grosseteste, của các bộ Tổng luận của Alexander xứ Hales, và của Bonaventure. Nhưng mỹ học của một số triết gia cuối thế kỷ XIII, như Roger Bacon, và đặc biệt là Vitelo, thì hoàn toàn mang tính thường nghiệm.

Ở đây có một ảnh hưởng từ bên ngoài đang tác động, tức ảnh hưởng của các triết gia Ả Rập, và đặc biệt là của Alhazen. Alhazen sống sớm hơn đáng kể, vào khoảng giao thời giữa thế kỷ X (935–1038). Ông sinh tại Basra và mất tại Cairo. Phương Tây Latinh chỉ làm quen với các trước tác của ông vào thế kỷ XIII. Tác phẩm Phép phối cảnh của ông, cũng còn được gọi là Quang học, đã được dịch sang tiếng Latinh và được một triết gia phương Tây tiếp nhận, người sau đó phát triển và truyền bá những tư tưởng của ông.

Người ấy là Vitelo. Ông có nguồn gốc Ba Lan; thực vậy, ông là triết gia đầu tiên trong lịch sử có liên hệ với Ba Lan. Tác phẩm của ông, cũng như tác phẩm của Alhazen, mang nhan đề Phép phối cảnh. Bằng việc đưa Alhazen vào phương Tây, Vitelo đã khởi động một xu hướng mới trong mỹ học Trung đại, một sự chuyển dịch từ phép biện chứng sang quan sát. Đây là điều mới trong mỹ học Trung đại, dù nó đã từng có thể thấy nơi Aristotle.

2. BỐN LUẬN ĐỀ TÂM LÝ HỌC TRONG MỸ HỌC. Các tư tưởng của Alhazen và Vitelo, xét đúng ra, thuộc về quang học và tâm lý học của sự nhìn, nhưng chúng có liên hệ với mỹ học và giải thích những năng lực nào là cần thiết trong việc nhìn thấy các hình thái. Luận đề thứ nhất nói rằng có những hiện tượng của thế giới khả kiến mà chúng ta nắm bắt được chỉ bằng riêng những ấn tượng thị giác (sola intuitio). Điều này xảy ra trong trường hợp của ánh sáng và màu sắc; chúng được thị giác lĩnh hội (visibilia per se), và chỉ riêng chúng mới được thị giác lĩnh hội: “Ngoài ánh sáng và màu sắc, không có sự vật khả kiến nào có thể được giác quan thị giác nắm bắt chỉ bằng riêng nó.”

Luận đề thứ hai nói rằng trong mọi trường hợp khác, đặc biệt là trong việc lĩnh hội hình dạng, thì những ấn tượng thị giác là không đủ. Các hình dạng không chỉ là những ấn tượng thị giác, mà còn là đối tượng của những tri giác phức hợp (apprehensio); không phải là visibilia per se, mà như Vitelo nói, là visibilia per accidens, tức là chúng được nắm bắt nhờ những năng lực khác của tinh thần ngoài thị giác. Tri giác được xây dựng trên các ấn tượng cảm giác, nhưng đồng thời cũng bổ sung cho chúng; các ấn tượng thì đơn giản (aspectus simplex), còn tri giác thì phức hợp. Phần lớn tri thức của chúng ta về thế giới khả kiến là do tri giác mà có, chứ không chỉ do riêng thị giác và những ấn tượng cảm giác.

Luận đề thứ ba nói rằng trong tri giác có một yếu tố hoàn toàn khác được can dự vào, tức năng lực phán đoán hoặc phân biệt (vis iudicativa vel distinctiva). Đây là một năng lực trí tuệ, tuy không đồng nhất với trí tuệ. Trí tuệ vận hành bằng những nguyên lý phổ quát, trong khi năng lực này vận hành với chất liệu cụ thể ở trong tinh thần của cá nhân, chất liệu mà trước đó tinh thần đã thu nhận được (cum scientia praecedente). Tri giác sử dụng ký ức. Và nội dung của ký ức, như Alhazen và Vitelo lập luận, gồm có hai loại: nó lưu giữ những hình ảnh cá biệt của sự vật (intentiones particulares), chẳng hạn hình ảnh của một con vật hay một con người nào đó; nhưng nó cũng lưu giữ những hình ảnh loại biệt (intentiones speciales), tức những hình ảnh phổ quát về con người hay con thú được hình thành như là kết quả của sự so sánh. Những intentiones specialesformae universales này giữ một vai trò lớn trong tri giác.

Tri giác, đặc biệt trong những trường hợp phức hợp hơn, đòi hỏi sự chú ý và nỗ lực. Vì thế, Vitelo gọi nó là intuitio diligens [sự quan sát chăm chú]. Con người bình thường không ý thức được nỗ lực này, cũng không ý thức được những năng lực khác nhau của chính tinh thần mình. Đối với họ, dường như họ chỉ đơn thuần nhìn thấy các hình dạng, và họ quy cho giác quan điều mà thực ra phát sinh từ tinh thần. Họ không nhận ra rằng lý tính (fit per rationem et distinctionem / diễn ra nhờ hoạt động của lý tính và năng lực phân biệt), sự phán đoán, ký ức, những hình ảnh loại biệt, sự chú ý và nỗ lực tinh thần cũng đều có phần trong các tri giác của họ. Alhazen giải thích sự kiện chúng ta không nhận thấy sự vận hành của tinh thần mình bằng tốc độ của tư tưởng, và lời giải thích của ông đã được chấp nhận trong thế kỷ XIII, được không chỉ Vitelo mà cả Roger Bacon tiếp nhận nữa (propter velocitatem innatam homini, sicut docet Alhazen / do tốc độ bẩm sinh nơi con người, như Alhazen đã dạy).

Luận đề thứ tư liên quan đến câu hỏi: chúng ta đạt tới điều gì thông qua tri giác? Trước hết, chúng ta có thể lĩnh hội các hình dạng trong không gian (comprehensio formarum). Tiếp đến, chúng ta nhận ra các hình dạng: chúng ta nhận ra chúng bằng cách phát hiện sự tương đồng (assimilatio) của chúng với những hình ảnh có sẵn trong tinh thần mình. Và bởi năng lực phán đoán là năng lực đang hoạt động, nên chúng ta thậm chí còn nhận ra cả những sự vật mà ta chỉ nhìn thấy một phần: chẳng hạn, chúng ta nhận ra một người chỉ từ riêng bàn tay của người ấy, và khi đọc, chúng ta nhận ra cả một từ chỉ từ vài chữ cái. Hơn nữa, trong khi tri giác, chúng ta so sánh các sự vật và phân biệt chúng, đồng thời tri giác được những điểm tương đồng và dị biệt của chúng.

Những học thuyết tâm lý học này của Alhazen và Vitelo có tầm quan trọng rất lớn. Chúng không chỉ là điều mới mẻ đối với thời Trung đại. Đặc điểm trung tâm của học thuyết này, tức việc liên tưởng giữ một vai trò trong nhận thức, vốn đã được người Hy Lạp, đặc biệt là Aristotle, biết đến; nhưng Aristotle cho rằng các liên tưởng chỉ đơn thuần đi kèm với tri giác, trong khi Alhazen và Vitelo lại thấy rằng chúng là một bộ phận của tri giác và có tính bản chất đối với việc chúng ta lĩnh hội thế giới khả kiến.

3. CÁI ĐẸP ĐƠN GIẢN VÀ CÁI ĐẸP PHỨC HỢP. Bốn luận đề tâm lý học này, vốn khác xa với quan niệm ngây thơ về tri giác, có khả năng được áp dụng rất rộng. Tuy, như được Alhazen và Vitelo triển khai, chúng chỉ bị giới hạn trong tri giác thị giác, nhưng mutatis mutandis [với những điều chỉnh cần thiết], chúng có thể được áp dụng cho mọi hình thức tri giác; và tuy trước hết thuộc về tâm lý học, chúng vẫn có thể phục vụ như một nền tảng cho mỹ học, đồng thời kéo theo nhiều hệ quả trong mỹ học, đặc biệt là sự kiện rằng, cũng như có hai loại sự nhìn, một loại ở những ấn tượng cảm giác đơn giản và loại kia nằm ở những tri giác phức hợp, thì cũng có hai loại cái đẹp: cái đẹp của những sự vật đơn giản và cái đẹp của những sự vật phức hợp. Loại thứ nhất do các ấn tượng cảm giác mang lại cho chúng ta, loại thứ hai do tri giác. Vẻ đẹp của ánh sáng và màu sắc là những ví dụ của loại thứ nhất; còn vẻ đẹp của các hình dạng là ví dụ của loại thứ hai. Loại cái đẹp thứ hai này có thể xuất hiện nơi những hình dạng cá biệt, cũng như trong sự kết hợp của các hình dạng (ex coniunctione earum inter se / từ sự kết hợp giữa chúng với nhau) và trong tỷ lệ thích đáng giữa chúng.

Niềm tin cho rằng có hai loại cái đẹp, cái đẹp đơn giản và cái đẹp phức hợp, hầu như đã được các nhà Kinh viện thế kỷ XIII nhất loạt thừa nhận; nhưng niềm tin ấy được đặt nền trên những tiền đề triết học, và còn trên cả mong muốn dung hòa hai truyền thống: truyền thống Pythagoras và truyền thống Tân Plato; còn nơi Alhazen và Vitelo, nó đã nhận được một sự biện minh về mặt tâm lý học.

4. NHỮNG SAI LẦM THẨM MỸ. Họ cũng giải thích rằng tri giác không phải lúc nào cũng chân xác và rằng chúng ta chỉ thực sự tri giác các sự vật và các hình dạng của chúng dưới những điều kiện nhất định. Nếu các điều kiện ấy không được đáp ứng, tri giác của chúng ta sẽ bị khiếm khuyết, và một phán đoán được xây dựng trên tri giác sai lệch sẽ trở thành sai lầm. Điều này cũng đúng đối với các phán đoán về cái đẹp và cái xấu. Theo Alhazen và Vitelo, một sai lầm có thể len vào trong phán đoán thẩm mỹ khi: 1. ánh sáng không đầy đủ; 2. sự vật được tri giác ở quá xa; 3. nó ở trong một vị thế bất thường; 4. nó quá nhỏ; 5. nó không có đường nét xác định rõ ràng; 6. nó không đủ đậm đặc; 7. nó được nhìn thấy trong một khoảng thời gian quá ngắn; và cũng 8. khi thị lực của người quan sát quá yếu. Danh sách này là danh sách cổ nhất thuộc loại ấy còn được truyền lại cho chúng ta.

5. NHỮNG YẾU TỐ CỦA CÁI ĐẸP. Alhazen, và sau ông là Vitelo, còn thực hiện một nhiệm vụ cũng không kém phần quan trọng và khó khăn, đó là liệt kê những thuộc tính góp phần làm nên vẻ đẹp của một sự vật. Trước hết là những gì chúng ta nắm bắt bằng các ấn tượng cảm giác, rồi đến những gì chúng ta nắm bắt trong tri giác. Họ chỉ có thể nêu ra hai ví dụ thuộc loại thứ nhất: ánh sáng (lux) và màu sắc (color); nhưng đối với loại thứ hai, họ kể ra tới hai mươi yếu tố. Danh sách này có điểm đặc biệt ở chỗ trong số hai mươi phẩm tính ấy, chính cái đẹp và cái xấu cũng được bao gồm; nhưng mỗi một trong mười tám thuộc tính còn lại của sự vật đều có thể là đẹp hoặc góp phần vào vẻ đẹp của sự vật.

Danh sách ấy bao gồm: 1. cái đẹp; 2. cái xấu; 3. khoảng cách (remotio), bởi khoảng cách có thể che giấu những điều xấu xí, như các vết đốm hay nếp nhăn trên khuôn mặt; 4. vị trí (situs) của các sự vật; chẳng hạn, ngay cả những con chữ đẹp nhất trong một bản thảo cũng sẽ trở nên xấu nếu được viết một cách hỗn loạn; 5. tính hình khối (corporeitas), bởi chúng ta ưa thích những vật thể tròn hay có dạng cầu, như các cột; 6. hình dạng (figura), chẳng hạn đôi mắt hình bầu dục đẹp hơn đôi mắt tròn; 7. kích thước (magnitudo), bởi những ngôi sao lớn đẹp hơn những ngôi sao nhỏ; 8. tính liên tục (continuatio), vì chẳng hạn chúng ta thích khối xanh liền mạch của cây cối hay của một đồng cỏ; nhưng chúng ta cũng thích 9. sự gián đoạn (discretio et separatio), như những ngôi sao rải rác trên bầu trời; 10. số lượng (numerus), bởi chúng ta thích những phần của bầu trời nơi có nhiều sao nhất; 11. sự vận động (motus), bởi một cử chỉ thích đáng làm tăng vẻ đẹp của lời nói; nhưng cũng cả 12. sự tĩnh tại (quies), như trong tính bất động của một pho tượng; 13. sự thô nhám (asperitas), chẳng hạn sự ráp cứng của một áo giáp lưới; nhưng cũng cả 14. sự trơn mịn (lenitas), chẳng hạn sự mượt mà của lụa; 15. tính trong suốt (diaphanitas), chẳng hạn tính trong suốt của không khí khiến ta có thể nhìn thấy các ngôi sao; nhưng cũng cả 16. sự đậm đặc (spissitudo). Ngay cả 17. bóng râm (umbra) và 18. bóng tối (obscuritas) cũng là những nguồn của cái đẹp; bởi vào kỳ trăng non, bầu trời đẹp hơn vào lúc trăng tròn. 19. sự tương tự (consimilitudo), bởi chữ viết không đều thì xấu, và đôi mắt không bằng nhau về kích thước cũng vậy; nhưng cũng cả 20. sự đa dạng (diversitas), bởi một lối chữ không có biến hóa trong độ dày của các nét bút thì gây khó chịu.

Không ai, ngay cả Aristotle và những người theo Aristotle, dù rất ưa thích việc liệt kê, cũng đã từng đưa ra một bảng kê các thuộc tính phong phú đến như vậy. Nhưng dù danh sách ấy có dồi dào đến đâu, nó vẫn không đồng nhất và cũng không thật sự đúng về mặt phương pháp luận. Ngoài việc nêu cái đẹp và cái xấu cùng với những thuộc tính làm nên cái đẹp và cái xấu, nó còn bao gồm cả những điều tự thân là đẹp, như màu sắc, lẫn những điều kiện dưới đó cái đẹp được tri giác, như khoảng cách. Tuy nhiên, giữa nhiều nhận xét có giá trị khác, danh sách ấy đã lưu ý đến sự kiện rằng những mặt đối lập cũng có thể ngang nhau trong tư cách là nguồn của cái đẹp: ánh sáng và bóng râm, tính liên tục và sự gián đoạn, vận động và tĩnh tại, sự thô nhám và sự trơn mịn, tính trong suốt và sự đậm đặc, sự tương tự và sự đa dạng.

Tuy Alhazen và Vitelo đã cố gắng tách riêng những yếu tố làm nên vẻ đẹp của các toàn thể phức hợp, họ vẫn ý thức rất rõ rằng vẻ đẹp của toàn thể không chỉ phát sinh từ vẻ đẹp của các yếu tố, mà còn từ sự sắp đặt, tỷ lệ và sự hài hòa (proportionalitas et consonantia) giữa chúng. “Cái đẹp có thể đạt được thông qua một tri giác đơn nhất (intentio particularis), nhưng chỉ có thể đạt tới trong sự hoàn hảo của nó nhờ tỷ lệ và sự hài hòa của nhiều tri giác.”

6. TÍNH CHỦ QUAN HAY TÍNH KHÁCH QUAN CỦA CÁI ĐẸP. Alhazen và Vitelo chú tâm vào những biểu hiện cụ thể của cái đẹp, chứ không vào những vấn đề định nghĩa tổng quát, vốn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà Kinh viện. Vitelo nói một cách hết sức giản dị: “Cái đẹp là tên gọi dành cho điều làm vui thích linh hồn” (placentia animae). Và trước ông, Alhazen đã nói: “Tạo ra những sự vật đẹp có nghĩa là làm cho linh hồn được định hướng để nhìn một sự vật như là đẹp.”

Cả hai cách mô tả này đều mang âm hưởng chủ quan. Nhưng đối với Alhazen và Vitelo, cái đẹp và cái xấu là những thuộc tính ngang hàng với hình dạng và kích thước, và vì thế là những thuộc tính khách quan. Họ không khảo sát phương diện chủ quan của mỹ học. Với tư cách là những nhà tâm lý học, họ quan tâm đến cách chúng ta nhận biết thuộc tính khách quan ấy, tức cái đẹp. Có lẽ họ chú ý đến phương diện chủ quan của cái đẹp còn ít hơn bất kỳ nhà siêu hình học nào của thế kỷ XIII, kể cả các bộ Tổng luận của Alexander xứ Hales hay Thomas Aquinas. Đúng hơn, Alhazen vẫn còn quan niệm cái đẹp theo cách khách quan và với một thứ chủ nghĩa duy thực ngây thơ, còn Vitelo, tuy ở những phương diện khác vẫn theo ông rất sát, thì đã bắt đầu, có lẽ dưới ảnh hưởng của các nhà siêu hình học, lưu tâm đến những điều kiện chủ quan của cái đẹp.

7. THUYẾT DUY NGHIỆM VÀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI. Với tư cách là những người theo thuyết duy nghiệm, Alhazen và Vitelo không hề nghi ngờ rằng cái đẹp, cũng như bất kỳ thuộc tính nào khác, chỉ có thể được biết đến bằng kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm có nhất quán không? Alhazen không nêu câu hỏi ấy, còn Vitelo thì nói rõ rằng kinh nghiệm là đa dạng, khả biến, tương đối và phụ thuộc vào tập quán. Người Moor ưa một số màu sắc, người Scandinavia lại ưa những màu sắc khác. Điều gì đẹp đối với những người trước thì lại xấu đối với những người sau. Vitelo đặc biệt xét đến một nhân tố quy định tính tương đối và tính chủ quan trong các phán đoán của con người về cái đẹp và cái xấu, đó là tập quán. Tính cách của một con người được quy định bởi các tập quán của người ấy. “Mỗi người đều phán đoán cái đẹp (aestimatio pulchritudinis) theo tập quán riêng của mình (proprius mos).”

Tuy nhiên, Vitelo không phải là một người theo thuyết tương đối thẩm mỹ, cũng không hơn gì một người theo thuyết chủ quan. Ông không cho rằng, xét đến cùng, trong những vấn đề về cái đẹp thì ai cũng đúng; trái lại, ông cho rằng có người đúng và có người sai. Ông tin rằng có sự sai lầm thẩm mỹ, và ông đã nêu ra nhiều nguồn gốc khác nhau của nó, như những điều kiện ánh sáng bất lợi, khoảng cách quá xa, hay một số hạn chế nơi người quan sát, chẳng hạn sự yếu kém của các cơ quan cảm giác của người ấy.

Đinh Hồng Phúc dịch


Nguồn: Wladyslaw Tatarkiewicz, 1970. Lịch sử mỹ học. Tập II: “Mỹ học thời Trung đại”. PWN.


 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: dinhhongphuc2010@gmail.com.
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt