|
CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNGBASE AND SUPERSTRUCTURE
Ẩn dụ (mượn từ kiến trúc) được chủ nghĩa Marx sử dụng để chỉ mối quan hệ giữa kinh tế và các lĩnh vực còn lại của đời sống xã hội. Cũng như kích thước và hình dạng của phần kiến trúc bên trên của một tòa nhà sẽ phụ thuộc vào độ rộng và độ sâu của phần nền móng của nó, thì những đặc điểm của các lĩnh vực phi kinh tế trong đời sống xã hội của con người cũng sẽ phụ thuộc vào tính chất của hoạt động kinh tế. Đối với chủ nghĩa Marx, cơ sở kinh tế được hợp thành từ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (nói một cách đơn giản, đó là việc áp dụng công nghệ vào sản xuất và những quan hệ được thiết lập giữa những người trực tiếp lao động sản xuất với những người kiểm soát quá trình sản xuất). Vì thế, cơ sở kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ bao gồm các kỹ thuật sản xuất công nghiệp và các thị trường lao động và hàng hóa; còn cơ sở kinh tế phong kiến sẽ bao gồm nền sản xuất tiền công nghiệp và chế độ nông nô. Kiến trúc thượng tầng, theo nghĩa đơn giản nhất, là khái niệm chỉ toàn bộ những lĩnh vực khác của đời sống xã hội, nhưng cụ thể bao gồm nhà nước, pháp luật, gia đình, cũng như các lĩnh vực văn hóa hoặc ý hệ như tôn giáo, nghệ thuật và truyền thông đại chúng. Mô hình cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vẫn để ngỏ hai câu hỏi, và cách trả lời chúng phụ thuộc vào lối diễn giải cụ thể đối với lý thuyết xã hội Mác-xít. Câu hỏi thứ nhất, đồng thời cũng là câu hỏi cấp bách hơn, tập trung vào bản tính của kiểu quyết định luận được hàm ngụ trong mô hình ấy. Cơ chế giải thích nối kết cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng xoay quanh sự biểu hiện của xung đột giai cấp và quyền lực. Việc thúc đẩy và khai thác một tập hợp lực lượng sản xuất nhất định được xem là phù hợp với lợi ích của một giai cấp nhất định (chẳng hạn như nền sản xuất công nghiệp buổi đầu gắn với lợi ích của giai cấp tư sản) Quyền lực kinh tế của giai cấp thống trị, biểu hiện thành quyền lực chính trị trong nhà nước, cho phép giai cấp ấy tác động đến sự phát triển và định hình các thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng, sao cho chúng tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho việc khai thác các lực lượng sản xuất. Vì vậy, các hệ thống pháp luật sẽ góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất (chẳng hạn bằng cách tạo điều kiện cho một lực lượng lao động tự do trong chủ nghĩa tư bản), trong khi những thiết chế khác thuộc kiến trúc thượng tầng sẽ có xu hướng hợp thức hóa trật tự kinh tế và chính trị hiện có (xem đó như điều tự nhiên, do Thượng đế ban cho, hoặc công bằng), đồng thời đảm nhiệm việc xã hội hóa những thành viên mới của xã hội. Một mô hình quyết định luận nghiêm ngặt sẽ chỉ dành cho kiến trúc thượng tầng rất ít, hoặc không có, tính tự trị đối với cơ sở hạ tầng. Điều này, về nguyên tắc, sẽ cho phép khoa học xã hội Mác-xít xây dựng những quy luật tất định luận nghiêm ngặt, nhờ đó có thể dự đoán cấu trúc và tiến trình phát triển lịch sử của một xã hội trên cơ sở hiểu biết về nền kinh tế của nó. Những mô hình mềm dẻo hơn cho rằng các thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng có một mức độ tự trị nhiều hay ít đối với cơ sở hạ tầng, và vì thế có thể phát triển tương đối độc lập với những lợi ích trực tiếp hoặc lộ liễu của giai cấp thống trị. Khi ấy, quan hệ nhân quả không nhất thiết phải là quan hệ một chiều, nhờ vậy để ngỏ cho những biến đổi trong kiến trúc thượng tầng tác động trở lại đến sự phát triển kinh tế. Cơ sở kinh tế, trong trường hợp ấy, xét tới cùng mới có thể giữ vai trò quyết định, hoặc đặt ra những giới hạn bao quát trong đó kiến trúc thượng tầng có thể được định hình. Câu hỏi thứ hai đòi hỏi phải xác định một cách chính xác ranh giới giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Điều này không dễ thực hiện, do địa vị hàm hồ của hệ thống pháp luật. Thoạt nhìn, hệ thống pháp luật dường như chỉ thuộc về kiến trúc thượng tầng; thế nhưng luật lao động, hay bất kỳ hình thức luật thương mại nào, phần lớn lại giữ chức năng xác định các quan hệ sản xuất. Với tư cách ấy, nó là một bộ phận của cơ sở kinh tế. Chưa rõ liệu quan hệ sản xuất có thể được xác định bằng những thuật ngữ phi pháp lý hay không. Tuy vậy, chính sự hàm hồ ấy lại cho thấy rõ nguy cơ của việc đặt quá nhiều sức nặng lý thuyết vào một ẩn dụ chưa được suy xét thấu đáo. Mô hình cơ sở hạ tầng–kiến trúc thượng tầng là một hình ảnh hữu ích, nhưng nó không thể thay thế cho sự lý thuyết hóa chặt chẽ về mối quan hệ giữa kinh tế và các lĩnh vực còn lại của đời sống xã hội. Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.
|
Ý KIẾN BẠN ĐỌC