Thuật ngữ tổng quát

Giai cấp / Class

 

GIAI CẤP

CLASS

 

 

Giai cấp trước hết có thể được hiểu như những nhóm được phân chia dựa trên cơ sở kinh tế, mặc dù các yếu tố kinh tế liên quan dùng để xác định một giai cấp có thể vẫn còn gây tranh cãi. Vì vậy, trong truyền thống Marxist, giai cấp được định nghĩa dựa trên quyền sở hữu khối tài sản phục vụ sản xuất, trong khi các truyền thống khác lại căn cứ vào sự khác nhau về thu nhập hay nghề nghiệp. Những sự phân chia giai cấp thường được xem là cơ sở của sự phân tầng xã hội, và do đó có thể gắn liền với những khác biệt về quyền lực và văn hóa. Điểm cốt yếu ở đây là, giai cấp không được hiểu như một tổng thể cơ học của các cá nhân riêng lẻ; bởi lẽ nếu như vậy, phân tích giai cấp sẽ chỉ còn là việc phân loại các cá nhân dựa trên các thuộc tính chung của họ. Trái lại, giai cấp được hiểu như những thực thể xã hội có tính hiện thực độc lập với các cá nhân hợp thành nên chúng. Do đó, giai cấp có thể giữ vai trò như một nhân tố nhân quả then chốt trong việc giải thích sự cấu thành của chủ thể con người cá nhân.

Nhận định nổi tiếng của Marx và Engels, tuy có phần hơi giản lược, rằng toàn bộ lịch sử trước đó đều là lịch sử của xung đột giai cấp (1985), đã hàm chứa nhiều nguyên lý nền tảng của cách tiếp cận Marxist về giai cấp. Việc phân tích bất kỳ xã hội cụ thể nào, tại bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử, có thể lấy sự xung đột âm ỉ hoặc bộc lộ giữa hai giai cấp cơ bản làm trọng tâm. Giai cấp lệ thuộc là lực lượng trực tiếp sản xuất của cải kinh tế trong xã hội ấy. Tuy nhiên, các thành viên của giai cấp đó không có quyền kiểm soát quá trình sản xuất; và vì thế, họ không thể giữ lại toàn bộ giá trị của những gì mình tạo ra, cũng không có quyền quyết định việc phân bổ và phân phối sản phẩm ấy. Sở dĩ như vậy là vì giai cấp thống trị sở hữu và kiểm soát toàn bộ nguồn lực kinh tế của xã hội (hay tư liệu sản xuất), và qua đó định đoạt số phận của bất cứ sản phẩm nào được tạo ra từ những nguồn lực ấy. Do đó, mối quan hệ giữa giai cấp thống trị và các giai cấp lệ thuộc là một quan hệ bóc lột, song hình thức cụ thể của sự bóc lột ấy lại phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, tức từng phương thức sản xuất trong đó nó diễn ra. Trong chủ nghĩa tư bản, chẳng hạn, giai cấp thống trị là giai cấp tư sản, tức giai cấp sở hữu tư bản; trong khi đó, giai cấp lệ thuộc là giai cấp vô sản (những người chỉ có sức lao động của mình, và buộc phải bán sức lao động ấy để sinh tồn). Sự bóc lột diễn ra thông qua việc chiếm đoạt giá trị thặng dư; tức tiền công mà giai cấp vô sản nhận được khi bán sức lao động của mình có giá trị thấp hơn giá trị trao đổi của sản phẩm khi sản phẩm ấy được bán ra. Mặc dù giai cấp tư sản và giai cấp vô sản được thừa nhận là những tác nhân lịch sử chủ đạo trong chủ nghĩa tư bản, Marx vẫn thừa nhận rằng các giai cấp khác cũng tồn tại.  bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử, những giai cấp này có thể là tàn dư của các giai đoạn lịch sử trước đó (chẳng hạn, tầng lớp quý tộc phong kiến vẫn tiếp tục tồn tại trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa), hoặc cũng có thể là hình thức sơ khai của một giai cấp mà về sau sẽ trở nên quan trọng (như giới tư bản thương nghiệp tồn tại trong giai đoạn cuối của chế độ phong kiến). Những nhóm khác có thể giữ những vị trí giai cấp mơ hồ, chẳng hạn người sản xuất nhỏ thuộc tầng lớp tiểu tư sản (bao gồm chủ cửa hàng nhỏ hoặc người kinh doanh độc lập), tức những người sở hữu không đủ tài sản phục vụ sản xuất để tự giải phóng mình khỏi tính tất yếu phải lao động (xem Marx 1976).

Xung đột giai cấp, trong chủ nghĩa Marx, được hiểu là sự xung đột lợi ích giữa các giai cấp. Việc duy trì các quan hệ kinh tế hiện hành là có lợi cho giai cấp thống trị. Ngược lại, việc chấm dứt những quan hệ đó là có lợi cho các giai cấp bị lệ thuộc. Tuy nhiên, xung đột giai cấp công khai, dưới hình thức cuộc cách mạng, lại bị kìm hãm, ít nhất là phần lớn, thông qua các cơ chế ý hệ (như các thiết chế giáo dục, tôn giáotruyền thông đại chúng) hiện có trong xã hội. Một lý thuyết về ý hệ cho rằng giai cấp thống trị không duy trì địa vị của mình chỉ bằng việc sử dụng vũ lực (hay bằng việc kiểm soát các phương tiện bạo lực). Trái lại, mối đe dọa bạo lực được bổ trợ bởi những cấu trúc niềm tin vốn dường như đem lại tính chính danh cho sự thống trị của giai cấp cầm quyền, và do đó trong ngắn hạn nó thậm chí có thể trở nên thừa. Vì vậy, dưới ảnh hưởng của ý hệ, các giai cấp bị trị sẽ duy trì những niềm tin đi ngược lại lợi ích khách quan dài hạn của chính họ. Vấn đề ý hệ trở thành một vấn đề cốt lõi của nghiên cứu văn hóa khi các lý thuyết ý hệ tinh vi hơn (nhất là các lý thuyết xoay quanh khái niệm bá quyền) cho rằng các giai cấp bị lệ thuộc không đơn thuần thụ động chấp nhận một lối kiến giải nào đó về thế giới có lợi cho giai cấp thống trị, mà trái lại, dựa trên kinh nghiệm của chính mình, họ thương lượng và chống lại lối kiến giải ấy với mức độ thành công khác nhau. Vì thế, về cơ bản, văn hóa dần được nhìn nhận như một lĩnh vực được cấu trúc dựa trên bất bình đẳng giai cấp.

Trong khi truyền thống Marxist có xu hướng giải thích mọi bất bình đẳng xã hội bằng cách quy chiếu về những khác biệt kinh tế (theo đó, giai cấp nào thống trị về kinh tế cũng được coi là sẽ thống trị cả về chính trị lẫn văn hóa), thì trong truyền thống phân tích xã hội học bắt nguồn từ các công trình của Max Weber, một cách lý giải đa diện hơn về bất bình đẳng xã hội lại được ưa chuộng hơn (1946c). Weber bổ sung cho phân tích giai cấp ở phương diện kinh tế bằng những phân tích về sự khác nhau trong quyền lực và địa vị xã hội. Ngay cả khi xét riêng các tiêu chí kinh tế dùng để phân định giai cấp, cách tiếp cận của Weber vẫn phong phú hơn so với Marx. Thứ nhất, Weber không tiền giả định rằng mọi khác biệt xã hội đều có thể quy giản về những sự khác nhau trong kinh tế (chẳng hạn, ông lưu ý rằng ở nước Đức cuối thế kỷ XIX, một tập đoàn cầm quyền quý tộc vẫn nắm giữ quyền lực chính trị, bất chấp sự tồn tại của một giai cấp tư sản hùng mạnh về kinh tế). Hơn nữa, đối với Weber, ít nhất là trong phạm vi chủ nghĩa tư bản đương đại, địa vị giai cấp của một cá nhân không chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ của người đó đối với tư liệu sản xuất, mà còn được hiện thực hóa thông qua thị trường. Vì vậy, Weber bàn đến các cơ hội thị trường, theo đó một cá nhân mang nhiều nguồn lực khác nhau ra thị trường lao động và thị trường vốn, bao gồm quyền sở hữu các nguồn vốn tích lũy, khả năng lao động và, điều cốt yếu, trình độ kỹ năng cao. Những nguồn lực khác nhau sẽ đem lại những mức độ và loại hình phần thưởng vật chất và phần thưởng biểu trưng khác nhau (hay nói cách khác là những cơ hội sống khác nhau). Điều này cho phép cách tiếp cận theo Weber thực hiện các phân biệt ngay bên trong giai cấp vô sản trong lý thuyết Marxist để giải thích tại sao giới trí thức và các vị trí quản lý hay hành chính thường nhận được mức đãi ngộ vật chất và địa vị xã hội cao hơn so với lao động chân tay. Điều này, đến lượt nó, làm sáng tỏ vị thế giai cấp nhập nhằng của các nhóm ấy; bởi lẽ, mặc dù xét một cách nghiêm ngặt họ vẫn phải được xác định là người lao động làm thuê, nhưng các lợi ích giai cấp ngắn hạn hoặc bề ngoài của họ, cách họ tự hiểu về mình và căn tính văn hóa của họ có thể gần gũi hơn với những đặc trưng của giai cấp hữu sản. (Chẳng hạn, các phân tích về những nhóm này đã là một bộ phận then chốt trong lý thuyết giai cấp của E.O. Wright (1985).) Ngoài ra, việc phân tích những khác biệt về địa vị xã hội, hay uy tín và sự tôn trọng gắn với các vị trí xã hội khác nhau, có thể dẫn tới việc phân tích những lối sống đặc thù gắn với các giai cấp khác nhau (theo đó, giai cấp một lần nữa được xem như một hiện tượng văn hóa, chứ không thuần túy là một hiện tượng kinh tế).

Có một nguy cơ là cách tiếp cận Weber trong phân tích giai cấp có thể bị quy giản thành việc giải thích giai cấp thuần túy dựa trên sự khác biệt nghề nghiệp, và vì thế trở nên tương tự như hệ thống phân loại các nhóm kinh tế - xã hội của Văn phòng Registrar General ở Vương quốc Anh (nhóm chuyên môn; nhóm chủ sử dụng lao động và nhà quản lý; nhóm lao động bậc trung, không thuộc lao động chân tay; nhóm lao động chân tay lành nghề và nhóm hành nghề độc lập không thuộc lao động chân tay;  nhóm lao động chân tay bán lành nghề; nhóm lao động chân tay không lành nghề). Nếu thiếu một nền tảng lý thuyết giai cấp chặt chẽ, những kiểu phân loại như vậy thường chẳng làm được gì hơn ngoài việc gán nhãn – nhằm phục vụ các mục đích hành chính – cho những tập hợp cá nhân hết sức đa dạng, thay vì mô tả và lý giải các giai cấp như những thực thể xã hội hiện thực và giải thích vai trò cấu tạo của chúng trong cuộc sống của chúng ta. Một vấn đề khác của mọi kiểu phân tích giai cấp, mà việc quy giản nó thành các nhóm kinh tế - xã hội là một minh họa điển hình, là ở chỗ nó không tính đến vị thế của phụ nữ. Chính bởi vì phân tích giai cấp chủ yếu được tiến hành theo tiêu chí hoạt động kinh tế, phụ nữ hoặc vẫn bị vô hình hóa, hoặc bị xếp theo giai cấp của người bạn đời nam, với lý do là họ không phải là người lao động làm công ăn lương; còn nếu họ có kiếm được tiền lương, thì tiền lương của họ (và vị thế kinh tế gắn với nó) vẫn bị coi là thứ yếu so với của người bạn đời. Các nhà nữ quyền xã hội chủ nghĩa đã cố gắng phân tích mối quan hệ giữa nam và nữ như một mối quan hệ tương tự quan hệ giai cấp, bằng cách tập trung vào việc nam giới chiếm đoạt lao động của phụ nữ (chẳng hạn như trong lao động nội trợ không được trả công, hoặc trong mức chênh lệch vẫn còn tồn tại giữa tiền lương của nam và nữ) (Barrett 1980).

Xem thêm: Di động xã hội / social mobility.

Đọc thêm

Bennett, T., Martin, G., Mercer, C. and Woollacott, J. (eds) (1981) Culture, Ideology and Social Process, London: Batsford in association with the Open University Press. 

Eagleton, T. (1991) Ideology: An Introduction, London: Verso. Edgell 1993; 

Giddens, A. (1973) The Class Structure of the Advanced Societies, London: Hutchinson.

Giddens, A. and Held, D. (eds) (1982) Classes, Power and Conflict: Classical and Contemporary Debates, Basingstoke: Macmillan.

Đinh Hồng Phúc dịch


Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.


 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: dinhhongphuc2010@gmail.com.
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt