Thuật ngữ tổng quát

Kiến trúc / Architecture

 

KIẾN TRÚC (ARCHITECTURE)

 

Khái niệm kiến trúc có thể bao quát mọi loại hình xây dựng (nhà ở, đền đài, khối nhà văn phòng, v.v.), hoặc cũng có thể được dùng đối lập với việc xây dựng, nhằm tập trung vào những công trình có chủ đích tạo nên uy thế hoặc sức gây ấn tượng. Nếu được hiểu theo nghĩa bao quát hơn ấy, có thể lập luận rằng sự hiểu biết và gắn bó với kiến trúc là yếu tố nền tảng đối với mọi sự hiểu biết toàn diện về văn hóa. Một trong những sự khai triển triệt để nhất của ý niệm này có thể thấy trong những suy tư của Heidegger về mối quan hệ giữa Tồn tại và cư ngụ (1993). Khi đặt việc cư ngụ trong mối liên hệ với xây dựng, Heidegger xem cư ngụ là hình thức nền tảng của sự hiện hữu con người. Các công trình biểu đạt năng lực của con người trong việc tổ chức môi trường mình sinh sống thành những nơi chốn có ý nghĩa, và qua đó phân định cũng như tạo ranh giới cho thế giới văn hóa của mình. Từ đó, có thể gợi ý rằng chính thông qua kiến trúc mà các nền văn hóa cá biệt, cũng như nhân loại xét như một toàn thể, đi tới chỗ tự biểu đạt và tự hiểu mình. Chính qua việc đối diện với những công trình của một nền văn hóa khác mà chúng ta có thể nhận ra tính khác biệt của chúng. Tuy nhiên, định nghĩa hẹp hơn ấy làm nổi bật một điểm quan trọng: môi trường được xây dựng là sản phẩm của những thứ bậc quyền lực chính trị, đồng thời cũng biểu đạt chính những thứ bậc ấy. Môi trường mà ta gặp phải thường phản ánh sự chênh lệch quyền lực giữa các nhóm trong việc xây dựng theo ý mình. Nếu xét sâu hơn, như công trình của Foucault và Deleuze, chẳng hạn, đã cho thấy kiến trúc còn có thể được hiểu như một phương tiện kiểm soát các quần thể dân cư.

Mặc dù kiến trúc có tầm quan trọng như vậy, nghiên cứu văn hóa có lẽ chỉ mới tiếp cận nó một cách gián tiếp. Một mặt, lý thuyết và thực hành kiến trúc đã ảnh hưởng đến nghiên cứu văn hóa, bởi kiến trúc là một trong những địa hạt mà ở đó khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại được định hình từ rất sớm. Mặt khác, nghiên cứu văn hóa đã khơi lại mối quan tâm đối với không gian kiến trúc, một phương diện cốt lõi của kinh nghiệm hiện đại chủ nghĩa, thông qua việc xem xét đời sống đô thị và thành phố nói chung, hoặc qua những không gian chuyên biệt như sảnh khách sạn và trung tâm mua sắm. Trong lý thuyết kiến trúc, khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại đã được phát triển để chỉ một sự ứng phó, cả trong lý thuyết lẫn trong thực hành, trước cuộc khủng hoảng và sự thất bại mà người ta nhận thấy nơi nền kiến trúc hiện đại chủ nghĩa vốn đã chi phối hoạt động xây dựng trong thế kỷ XX (tiêu biểu chẳng hạn qua công trình của Bauhaus, Le Corbusier, Mies van der Rohe, và, dù có phần lệch khỏi mạch ấy, Frank Lloyd Wright). Lịch sử kiến trúc hiện đại, có lẽ quá dễ dàng, có thể bị tóm lược thành một chuỗi khẩu hiệu. Những câu nổi tiếng của Le Corbusier như “ngôi nhà là một cỗ máy để ở”, hay “kiến trúc là trò chơi điêu luyện, chuẩn xác và tráng lệ của những khối được tập hợp trong ánh sáng”, quả thực rất đáng để dẫn lại. Tuy vậy, trong tất cả những khẩu hiệu ấy, câu đầu tiên và căn bản nhất là châm ngôn của Louis Sullivan: “hình thức tuân theo công năng” (được nêu ra năm 1896). Cũng như phần lớn những khẩu hiệu kiến trúc khác, kể cả của Le Corbusier, khẩu hiệu này có sức ảnh hưởng lớn cả khi được hiểu đúng lẫn khi bị hiểu sai. uy vậy, khẩu hiệu ấy vẫn cho thấy rõ lập trường của Sullivan trong việc đặt nền móng cho chủ nghĩa chức năng hiện đại. Mọi bộ phận của một công trình phải được thiết kế sao cho biểu đạt công năng mà nó đảm nhiệm trong chỉnh thể công trình ấy. Một dầm chịu lực phải trông đúng như một dầm chịu lực. Điều này biểu thị một sự chuyển hướng trong tư duy kiến trúc, từ sự đoạn tuyệt với đồ trang trí, mà biểu hiện quyết liệt nhất là ở Adolf Loos khi ông gắn đồ trang trí với tội ác (1966), đến sự phục hồi của một tinh thần duy lý. Chủ nghĩa duy lý trong kiến trúc, đặc biệt trong dạng thức châu Âu của nó, thường có xu hướng trình bày minh nhiên một cương lĩnh chính trị (thường mang màu sắc xã hội chủ nghĩa), và vì thế suy tư về mối quan hệ giữa kiến trúc và xã hội. Điều cốt yếu là, dù trên thực tế rất đa dạng, sự phát triển này vẫn có thể được hiểu như một sự viện dẫn theo tinh thần Khai minh đến một lý tính phổ quát để giải quyết mọi vấn đề xã hội. Vì thế, chủ nghĩa duy lý dẫn đến việc đề cao những khả năng mà kỹ thuật xây dựng mở ra (được khai thác qua việc sử dụng thép, bê tông và kính trong các công trình cao tầng), cũng như đề cao sản xuất hàng loạt. Một phần để đáp ứng nhu cầu về nhà ở giá rẻ trong những năm giữa hai cuộc thế chiến, các kiến trúc sư đã khảo sát những khả năng của phương pháp tiền chế. Tuy nhiên, đằng sau xu hướng ấy là một khuynh hướng tách rời công trình, được hoạch định theo một lý tính phổ quát, ra khỏi môi trường hay nơi cư trú đặc thù nơi nó được dựng lên. Hơn thế nữa, trong quy hoạch đô thị, lý tính còn được áp dụng vào việc thiết kế không chỉ các công trình riêng lẻ mà cả khu nhà ở, thậm chí cả thành phố như một chỉnh thể. Hiến chương Athens, được công bố sau Đại hội Quốc tế Kiến trúc Hiện đại lần thứ tư năm 1933 và chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Le Corbusier vào thời điểm ấy, đã trình bày một cách tiếp cận duy lý đối với “thành phố công năng”. Dù xuất phát từ thiện ý, cư dân của thành phố gần như chỉ còn là những người cư ngụ thụ động trong hàng loạt không gian công năng được quản trị theo lối duy lý.

Lập luận của Robert Jan van Pelt rằng Auschwitz đã thực hiện các chức năng cổ điển của một thành phố (như tôn thờ người chết, tôn vinh tương lai, cai trị, cư ngụ, nuôi sống và giao thương) là một lời bình đầy mỉa mai và gây bất an về quan niệm quy hoạch đô thị ấy.

Robert Venturi có thể được xem là một trong những nhà phê phán quan trọng đầu tiên về chủ nghĩa hiện đại. Theo lối bút chiến hơn, những tác giả như Christopher Jencks và Tom Wolfe đã góp phần phổ biến quan niệm mới về kiến trúc nảy sinh từ đó. Chủ nghĩa hậu hiện đại nhấn mạnh việc khôi phục ý nghĩa cho môi trường kiến tạo thông qua việc sử dụng nhiều yếu tố thiết kế theo quy ước. Yếu tố trang trí được khôi phục lại một cách rõ rệt nhất trong phân tích của Venturi về vai trò của các biển hiệu thương mại, đặc biệt là ở các sòng bạc Las Vegas, như những yếu tố biểu đạt văn hóa Mỹ hiện đại. Vì thế, chủ nghĩa hậu hiện đại là một lập trường “đa giá trị”, bác bỏ ý niệm về một lý tính phổ quát duy nhất và phi lịch sử. Sự gia tăng tính hí lộng và tính hàm hồ, cùng với việc sử dụng ẩn dụ hoặc chắp ghép các phong cách lịch sử (mà không suy tư về tính đặc thù lịch sử của chúng, đã thách thức những cấu trúc hiện đại chủ nghĩa nghiêm ngặt nhất). Tòa Public Services Building của Michael Graves tại Portland, Oregon (1980–2), với những đường nét và bề mặt đa dạng của nó, tiêu biểu cho chủ nghĩa hậu hiện đại cũng như khối thép và kính đồ sộ của tòa Seagram Building của Mies ở Thành phố New York (1954–8) tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện đại. Tương tự như vậy, quy hoạch đô thị cũng bắt đầu bị thách thức bởi lối kiến trúc cộng đồng, một lối kiến trúc nhằm thu hút cư dân tham gia vào quá trình quy hoạch và sử dụng những phong cách bản địa phù hợp với môi trường địa phương.

Ngoài phạm vi của lý thuyết kiến trúc, kinh nghiệm đô thị, xét như là một kinh nghiệm tiêu biểu của thời hiện đại, đã giữ vị trí trung tâm trong sự phát triển của các khoa học xã hội. Trong tác phẩm của những tác giả như Simmel, Weber và Benjamin, kinh nghiệm thành phố ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã trở thành đối tượng khảo sát, hoặc trực tiếp, như trong trình bày của Simmel về đại đô thị (1950b), hoặc gián tiếp, qua sự suy tư về vị trí của thành phố trong văn học, như trong nghiên cứu của Benjamin về Baudelaire và Paris (1973a). Công trình kinh điển của Williams về mối quan hệ căng thẳng giữa đô thị và nông thôn được công bố năm 1973. Một lần nữa, cuộc tranh luận về chủ nghĩa hậu hiện đại đã khơi lại mối quan tâm đối với đô thị, đặc biệt trong công trình của Berman, Baudrillard, Jameson, Cixous và Virilio. Dù mảng trước tác này rất đa dạng, một mối bận tâm chung của nó có thể là làm sao nhận hiểu và diễn đạt kinh nghiệm đô thị cũng như tính đa dạng trong các ý nghĩa mà kinh nghiệm ấy hàm chứa. Điều này có thể còn cho thấy sự sao lãng vấn đề ý nghĩa trong lý thuyết kiến trúc hiện đại chủ nghĩa, do nó quá nhấn mạnh vào một chủ nghĩa công năng thiên về kỹ thuật. Ngoài ra, sự phát triển của thành phố vào cuối thế kỷ XX còn thể hiện rõ một số chủ đề cốt lõi của chủ nghĩa hậu hiện đại, chẳng hạn xét theo sự chuyển dịch từ sản xuất sang tiêu dùng, sự gia tăng quá trình quý tộc hóa hóa đô thị, và vai trò của du lịch trong việc định hình cũng như tái định hình thành phố. Leach đã tập hợp một cách xuất sắc những văn bản tiêu biểu then chốt của lý thuyết văn hóa về kiến trúc trong công trình của ông Tư duy lại kiến trúc (1997)

Đinh Hồng Phúc dịch


Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.


 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: dinhhongphuc2010@gmail.com.
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt