|
LÝ THUYẾT HÀNH ĐỘNG / ACTION THEORY
Trong lý thuyết xã hội, người ta thường phân biệt giữa hành động và hành vi. Trong khi hành vi chỉ là những cử động thuần túy thể chất (hay bản năng) do chủ thể thực hiện, thì hành động là cái có tính ý hướng và mang ý nghĩa; và nói chính xác hơn, hành động xã hội được định hướng theo hành vi và hành động của người khác. Weber (1978) phân biệt bốn loại hình lý tưởng về hành động. Các hành động truyền thống được thực hiện vì trước nay vẫn luôn được thực hiện như vậy; do đó, chúng cấu thành một trường hợp giới hạn của hành động, hầu như chẳng hơn bao nhiêu so với hành vi. Hành động theo xúc cảm là hành động biểu lộ một xúc cảm. Đáng chú ý hơn, hành động zweckrational (duy lý theo mục tiêu hay duy lý công cụ) bao hàm việc lựa chọn phương tiện mà chủ thể xem là hiệu quả nhất về mặt công cụ để đạt được mục tiêu. (Bản thân mục tiêu có thể được đánh giá dựa trên mức độ đáng mong muốn của các hệ quả do việc theo đuổi và đạt được mục tiêu đó mang lại.) Một hành động công cụ có thể hiểu được trong chừng mực người ta nhận ra hoặc chia sẻ quan niệm của chủ thể hành động về các quan hệ công cụ hay nhân quả trong thế giới. Trong hành động wertrational (duy lý theo giá trị), hành động được định hướng tới việc đạt được một mục tiêu được đánh giá tích cực, và vì thế được mặc nhiên thừa nhận. Những hành động như vậy được hiểu thông qua việc nhận ra tầm quan trọng của các giá trị phù hợp đối với chủ thể hành động. Có thể nhận diện hai hướng phản ứng chính đối với cách lý giải của Weber. Một mặt, có thể nhấn mạnh tính có nghĩa của hành động, cũng như quá trình tạo sinh ý nghĩa trong cộng đồng và trong tương tác xã hội. Theo Schutz (1962, 1964), việc gán động cơ cho hành động (và theo đó là việc giải thích mục tiêu, phương tiện hay giá trị) là ngoại lệ chứ không phải quy tắc. Hoạt động tương tác xã hội thường nhật được đặt cơ sở trên những phản ứng được mặc nhiên thừa nhận đối với hành động của người khác, cũng như phản ứng của người khác đối với hành động của chính mình. (Trên thực tế, phần lớn hành động đều là hành vi theo thói quen và thiếu suy xét.) Nếu thế giới đời sống mang tính mặc nhiên này bị đứt gãy, người ta có thể quy gán động cơ theo hai lối: hoặc theo lối hồi cố (bằng các “động cơ bởi vì”, tức là giải thích những động cơ gần kề của các hành động trong quá khứ), hoặc theo lối dự tưởng (bằng các “động cơ nhằm”, tức là làm rõ mục tiêu của một hành động sắp diễn ra); chẳng hạn, để bảo vệ hành động của chính mình, hoặc để định hướng hành động của người khác. Ý nghĩa của một hành động, xét đến cùng, tùy thuộc vào quá trình thương lượng của tất cả các tác nhân tham dự, thay vì chỉ đơn giản quy về ý định của tác nhân ban đầu. Cách tiếp cận này đã được phương pháp luận dân dã phát triển theo hướng khá triệt để. Mặt khác, trong truyền thống thực chứng, hành động của các tác nhân cá nhân bị đặt dưới một trật tự xã hội bao trùm. Do đó, theo Parsons (1937, 1951), tính phức tạp của tương tác xã hội, trong đó tồn tại một phổ diễn giải rất rộng (xét theo ý hướng, động cơ hoặc mục tiêu), đến mức người ta không bao giờ có thể dự đoán với bất kỳ độ chắc chắn nào phản ứng của người khác, đòi hỏi trước đó phải có một cơ chế xã hội nhằm giảm độ phức tạp và gia tăng tính có thể dự đoán. Vì thế, trong tương tác, các tác nhân viện dẫn các chuẩn tắc đã được thiết chế hóa trong xã hội và được cá nhân nội tâm hóa trong quá trình xã hội hóa. Các chuẩn tắc không chỉ đơn thuần mã hoá những quy tắc mà mỗi tác nhân theo đuổi và cách họ đánh giá các mục tiêu tiềm năng, mà đúng hơn, chúng giữ vai trò định hướng hành động của họ. Trong hệ thống lý thuyết của Parsons, hành động xã hội của cá nhân do đó được tích hợp vào hệ thống xã hội xét như một toàn thể. Trong khi các tác nhân của Schutz chủ động dựa vào những nguồn lực văn hóa để kiến tạo ý nghĩa của hành động như một điều cần thiết, thì các tác nhân của Parsons ít nhiều thụ động tuân theo những quy tắc hành xử có tính quy định. Đọc thêm: - Habermas (1984). “Reason and the Rationalisation of Society”, Volume 1 of The Theory of Communicative Action, Cambridge: Polity Press.
- Joas, H. (1996) The Creativity of Action, Cambridge: Polity Press. Đinh Vũ dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.
|
Ý KIẾN BẠN ĐỌC