|
SIÊU HÌNH HỌC / METAPHYSICS
Theo quan điểm truyền thống, siêu hình học được xem là một ngành nghiên cứu về thực tại xét trong tư cách là thực tại vượt khỏi cái vẻ bề ngoài đơn thuần. Ba mục đích của nghiên cứu này được cho là nhằm tìm hiểu: (i) thế giới “thực sự” thì như thế nào, (ii) vì sao thế giới tồn tại, và (iii) vị trí của chúng ta, với tư cách là con người, trong thế giới này là gì. Gần đây hơn, các nhà siêu hình học, nói chung, có xu hướng giới hạn việc khảo sát của mình vào (i) và (iii), vì vậy, theo tinh thần của vật lý học hiện đại, họ xem (ii) là câu hỏi hầu như không thể trả lời. Chính vì cố gắng trả lời cả ba câu hỏi của siêu hình học, các nhà siêu hình học truyền thống thường có khuynh hướng xây dựng hệ thống (lý thuyết). Họ đã cố gắng giải thích bản tính chân thật của thực tại bằng cách kiến tạo một mô hình của chính thực tại ấy, mô hình này tích hợp các câu trả lời cho ba câu hỏi của siêu hình học thành một câu trả lời đơn nhất, mang tính tổng quát và hoàn chỉnh. Có lẽ Hegel là người áp dụng phương pháp luận này một cách quy mô nhất. Đối với ông, vũ trụ chỉ là một bản thể duy nhất (“tinh thần” hay Geist) đang trong tiến trình đi đến chỗ tự nhận biết chính mình. Những ví dụ về các triết gia khác đã vận dụng phương pháp này là G.W. Leibniz và, ở mức độ hạn chế hơn đôi chút, Giám mục Berkeley. Phong cách siêu hình học này thường thu hút các triết gia có cảm tình với thuyết duy tâm và mang khuynh hướng duy lý. Những người theo chủ nghĩa duy lý cho rằng chỉ có năng lực của lý tính và các quan năng của trí tuệ mới là những công cụ đáng tin cậy để tìm ra bản tính “chân thật” của thực tại. Cách tiếp cận này thích hợp với quan niệm xây dựng hệ thống ở chỗ: để đạt tới một hệ thống tốt, cần dùng năng lực lý tính và các quan năng này để kiến tạo một lý thuyết về vũ trụ vừa bao quát vừa đủ mạch lạc, sao cho có thể trả lời, theo cách tích hợp, cả ba câu hỏi của siêu hình học. Có lẽ thách thức lớn nhất đối với siêu hình học duy tâm truyền thống đến từ công trình của Immanuel Kant trong hình thức “thuyết duy tâm siêu nghiệm” của ông. Kant cho rằng cách tiếp cận của các nhà siêu hình học truyền thống không bao giờ có thể thành công, vì nó cố gắng làm quá nhiều việc. Quan điểm của ông là tuy có một thế giới vượt khỏi cái hiện tượng đơn thuần, nhưng ta không bao giờ có thể biết thế giới ấy tự thân nó ra sao, bởi cách ta đi đến việc nhận biết nó luôn bị giới hạn bởi những gì chúng ta, với tư cách những sinh thể có lý tính, mang vào đó. Vì vậy, theo một nghĩa nào đó, tuy có một thế giới độc lập với cách ta nghĩ về nó, nhưng thế giới ấy mãi mãi ngoài tầm với của chúng ta; do đó, ta đành bằng lòng với việc khảo sát thế giới như nó xuất hiện ra cho ta. Một khi chấp nhận điểm này, chính ảnh hưởng của Kant đã lần đầu tiên gắn chặt các vấn đề của siêu hình học với các vấn đề của nhận thức luận. Những tranh luận gần đây nhất trong siêu hình học thường tập trung vào cuộc tranh luận giữa những người ủng hộ thuyết duy thực siêu hình học và những người ủng hộ thuyết phản duy thực với nhiều phiên bản khác nhau, ít nhiều mang tính cực đoan. Những người ủng hộ thuyết duy thực siêu hình học phản ánh, và có gốc rễ lịch sử trong, mối quan tâm của những người từ lâu vẫn phản đối cả thuyết duy lý lẫn thuyết duy tâm, tức là những người ủng hộ thuyết duy nghiệm. Những người duy thực siêu hình học giữ lập trường rằng có một thực tại vật chất/vật lý độc lập với tinh thần, và ta có thể đi đến chỗ nhận biết thực tại ấy. Vì vậy, không chỉ là dường như có những sự vật như cây cối, mèo và đá, mà các sự vật ấy thực sự tồn tại trong một thế giới độc lập với tinh thần (van Inwagen 1993). Những người bác bỏ thuyết duy thực siêu hình học được gọi là các nhà phản duy thực. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là phải làm rõ chính xác thì họ bác bỏ điều gì, và liệu tất cả họ có bác bỏ cùng một điều hay không. Quả vậy, một số nhà phản duy thực chỉ bác bỏ bất cứ quan niệm nào về thực tại theo kiểu giản đơn, trực tiếp, chứ không nhất thiết bác bỏ bản thân thực tại; nhưng cũng có những người dường như bác bỏ quan niệm về thực tại một cách triệt để. Nhóm sau bao gồm các triết gia phân tích (xem: triết học phân tích) như Richard Rorty (1972) và Nelson Goodman (1978), cùng các nhà hậu hiện đại (xem: chủ nghĩa hậu hiện đại) chẳng hạn như Jean Baudrillard (1988). Trong nhóm trước có những triết gia như Hilary Putnam (1981) và Thomas S. Kuhn (1970); họ tự nhận là làm việc dưới cái bóng của Kant, dường như muốn lưu ý đến những khó khăn lý thuyết (problematics) gắn liền với việc đạt tới thực tại, hơn là bác bỏ thẳng khái niệm ấy ngay từ đầu. Một số triết gia đã bác bỏ hoàn toàn dự án siêu hình học. Trong triết học phân tích có các nhà thực chứng logic, tức những người cho rằng các nhà siêu hình học không thể phát biểu được điều gì có nghĩa (Ayer 1946). Sở dĩ như vậy là vì họ không thể nêu ra những điều kiện cho phép chúng ta đánh giá một mệnh đề siêu hình là đúng hay sai (xem: ý nghĩa). Gần đây hơn, đã có xu hướng phản bác cái mà Jacques Derrida gọi là “siêu hình học của sự hiện diện”. Derrida đã được diễn giải theo nhiều cách: hoặc như người phủ nhận rằng có bất cứ cái gì ở bên ngoài văn bản hoặc, ít triệt để hơn, như người chỉ ra sự vô vọng của việc nói về thực tại bên ngoài bất kỳ một khung diễn giải cụ thể nào (xem Norris 1987: chương 6). Đọc thêm: Kim, J. and Sosa, E. (1994) A Companion to Metaphysics, Oxford: Blackwell. Walsh, W.H. (1963) Metaphysics, London: Hutchinson. Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008. |
Ý KIẾN BẠN ĐỌC