|
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT / ARTWORLD
Thuật ngữ trong mỹ học, ban đầu do Arthur Danto đề xuất vào năm 1964, nhưng sau đó được George Dickie phát triển thành khái niệm then chốt trong lý thuyết thể chế về nghệ thuật. Một số tác phẩm nghệ thuật hiện đại, tiêu biểu là các tác phẩm của Duchamp (đặc biệt là Cái đài phun nước) và nghệ thuật ý niệm, đã đặt ra những vấn đề cho các cách tiếp cận mỹ học truyền thống, bởi lẽ tuy chúng khẳng định vị thế của mình như là các tác phẩm nghệ thuật, nhưng dường như lại không mang bất kỳ đặc điểm nào được quy cho nghệ thuật theo quan niệm truyền thống. Lý thuyết thể chế nỗ lực giải quyết vấn đề này bằng cách lập luận rằng không có thuộc tính cố hữu nào trong một đối tượng dùng để xác định nó là nghệ thuật. Đúng hơn, vị thế của tác phẩm nghệ thuật được thế giới nghệ thuật trao cho đối tượng đó. Theo Dickie, thế giới nghệ thuật (artworld) được định nghĩa là một tập hợp những con người được tổ chức một cách lỏng lẻo nhưng vẫn có mối liên hệ với nhau, bao gồm các nghệ sĩ…, những người sản xuất, giám đốc bảo tàng, người tham quan bảo tàng…, các nhà phê bình…, các triết gia nghệ thuật, và những người khác (Dickie 1974: 35–36). Tóm lại, đó là một nhóm người phần lớn tự xác định mình, tức là những người bày tỏ mối quan tâm tới nghệ thuật, và qua đó thương lượng vị thế hiện tại của các vật tạo tác cụ thể. Theo lý thuyết thể chế, những vật tạo tác vốn ban đầu không được tạo ra như là những tác phẩm nghệ thuật (chẳng hạn các vật thời trung đại hoặc cổ đại, xuất hiện trước khi khái niệm hiện đại về “nghệ thuật” được hình thành) hiện nay vẫn có thể được trao vị thế nghệ thuật; và tương tự, những đối tượng từng được xem là nghệ thuật cũng có thể bị tước bỏ vị thế ấy. Người ta có cơ sở chính đáng để đặt ra câu hỏi rằng lý thuyết thể chế có nên được hiểu như một cách tiếp cận thuộc lĩnh vực xã hội học văn hóa, hơn là thuộc phạm vi mỹ học, hay không. Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008. |
Ý KIẾN BẠN ĐỌC