|
THUYẾT TƯƠNG TÁC BIỂU TRƯNGSYMBOLIC INTERACTIONISM
Trong xã hội học, thuyết tương tác biểu trưng là một khung lý thuyết tập trung vào các quan hệ giữa những tác nhân con người (và vì thế, nó quan tâm đến các hiện tượng xã hội “vi mô”, hơn là mối quan tâm quy mô lớn hay “vĩ mô” đối với cấu trúc xã hội, thường thấy trong chủ nghĩa Marx hoặc thuyết chức năng). Điều cốt yếu là, lý thuyết này quan tâm đến cách thức các tác nhân xã hội có năng lực kiến tạo và tạo nghĩa cho thế giới xã hội mà họ đang sống trong đó. Những cách giải thích như vậy thường dựa trên việc ghi chép tỉ mỉ đời sống thường nhật, thông qua quan sát tham dự hoặc quan sát không tham dự. Thuyết tương tác biểu trưng được phát triển tại Đại học Chicago vào giai đoạn đầu của thế kỷ này, đặc biệt là dưới ảnh hưởng của triết gia dụng hành luận G.H. Mead. Chính thuật ngữ “thuyết tương tác biểu trưng” do Herbert Blumer đặt ra vào năm 1937, mặc dù phải đến cuối thập niên 1960 và thập niên 1970, thuyết tương tác biểu trưng mới trở thành một cách tiếp cận được thừa nhận rộng rãi. Mead (1934) lập luận rằng bản ngã, hay bản sắc cá nhân và tự ý thức của chúng ta, không tồn tại một cách độc lập với các quan hệ xã hội của ta với người khác. Nó được hình thành và liên tục được biến đổi thông qua những hành động của chúng ta đối với người khác, những phản ứng của họ, và việc chúng ta dự đoán trước các phản ứng ấy (và vì thế, thông qua tương tác xã hội của chúng ta). Mead so sánh sự giao tiếp giữa con người với sự giao tiếp giữa các loài động vật không phải con người. Trong giao tiếp giữa các loài động vật không phải con người, một con vật phản ứng trước các khuôn mẫu hành vi (hay các cử chỉ) của con vật khác bằng cách điều chỉnh các cử chỉ của chính nó. Theo Mead, cái làm nên nét khu biệt của sự giao tiếp ở con người là con người không chỉ đơn thuần phản ứng trước một cử chỉ, mà phản ứng trước mối quan hệ giữa cử chỉ đó với đối tượng hoặc sự kiện đã kích thích hoặc thúc đẩy cử chỉ ấy. Trên hết, con người thực hiện điều đó từ lập trường của người hành động ban đầu. Thực vậy, con người cố gắng hiểu vì sao người kia lại hành động như vậy. Cử chỉ trở thành một biểu trưng, và do đó trở nên có nghĩa, chính ở chỗ một người đồng cảm với vị thế, vai trò và thái độ của người kia. Vì vậy, con người có thể hình dung tác động mà một cử chỉ sẽ gây ra đối với người khác thông qua một cuộc đối thoại nội tâm giữa cái “Tôi”, tức mặt tự khởi của bản ngã, và cái “mình” (nói một cách thô thiển là bản ngã như được nhìn nhận bởi người khác). Bản ngã của con người vì thế được cấu tạo và liên tục được cấu tạo lại bằng việc nội tâm hóa “kẻ khác được khái quát hóa”, tức các thái độ và viễn tượng điển hình của nhóm. Blumer, bằng cách giản lược triết học của Mead, đã trình bày thuyết tương tác biểu trưng như một chương trình nghiên cứu xã hội học, bằng việc tập trung vào cách thức các tác nhân xã hội thương lượng ý nghĩa của những tình huống xã hội cụ thể mà họ tham dự. Chẳng hạn, các nhà chức năng luận có xu hướng giả định rằng các vai trò và chuẩn mực xã hội tồn tại có trước cá nhân (và có tính khách quan như những sự kiện xã hội, những thứ vừa ràng buộc vừa quy định hành vi xã hội). Một tác nhân xã hội có năng lực chỉ cần có khả năng áp dụng các quy tắc thích hợp (hoặc đảm nhận vai trò thích hợp) trong một tình huống nhất định. Trái lại, nhà tương tác luận nhấn mạnh công việc mà các tác nhân xã hội buộc phải thực hiện – không phải ở chỗ nhận ra ý nghĩa và tầm quan trọng vốn đã có sẵn của một tình huống – mà ở chỗ tạo lập một cách hiểu chung về tình huống ấy, và vì thế hình thành một sự chấp thuận chung đối với các vai trò và chuẩn mực được đảm nhận. Vì vậy, xã hội không phải mang tính khách quan, tồn tại độc lập với các tác nhân xã hội, mà được chính các tác nhân kiến tạo và duy trì thông qua tương tác. Trong thập niên 1960, các công trình của Erving Goffman đã phát triển một hình thức của thuyết tương tác biểu trưng, đặc biệt nhấn mạnh đến tương tác mặt đối mặt. Ông khảo sát tính mong manh và tính linh động của những tương tác như vậy. Việc phân tích những hiện tượng như sự bối rối cho thấy những khoảnh khắc mà tương tác xã hội bị đổ vỡ (khi một hoặc nhiều người tham dự bị phơi bày là không đủ năng lực). Một phần đáng kể của đời sống xã hội, khi ấy, có thể được xem là xoay quanh việc né tránh, hay chống đỡ, những lời quy kết rằng mình không đủ năng lực (vì vậy, mang âm hưởng cuộc đối thoại nội tâm của Mead, điều quan trọng đối với một tác nhân xã hội có năng lực là đóng khung sự trật nhịp của mình như những khoảnh khắc bất thường của sự mất năng lực, chẳng hạn bằng cách tự mắng mình). Goffman còn gợi ý thêm (một lần nữa mang âm hưởng của Mead, tuy trong một hình thức cực đoan hơn) rằng “bản ngã” của chúng ta được cấu tạo, một cách độc nhất, trong mỗi tương tác xã hội riêng biệt. Thái độ và các khuôn mẫu hành vi của chúng ta được định hình tùy theo những người xung quanh ta (và vì thế, trong ví dụ nay đã thành kinh điển của Goffman (1959), thái độ của người bồi bàn trước mặt khách hàng khác một cách căn bản so với thái độ của anh ta trước các đồng nghiệp trong bếp). Mặc dù đem lại những thức nhận quan trọng về quá trình xã hội hóa và về lệch chuẩn (đặc biệt là lý thuyết gán nhãn), thuyết tương tác biểu trưng vẫn bị phê phán vì đã không tính đến một cách đầy đủ các quan hệ quyền lực. Đọc thêm: Berger, P.L. (1963) Invitation to Sociology, Harmondsworth: Penguin. Berger, P.L. and Luckmann, T. (1961) The Social Construction of Reality: A Treatise in the Sociology of Knowledge, London: Allen Lane. Blumer, H. (1969) Symbolic Interactionism: Perspective and Method, Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall. Denzin, N.K. (1992) Symbolic Interactionism and Cultural Studies, Oxford: Blackwell. Goffman, E. (1959) The Presentation of Self in Everyday Life, Harmondsworth: Penguin. Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.
|
Ý KIẾN BẠN ĐỌC