|
TRIẾT HỌC LỤC ĐỊA / CONTINENTAL PHILOSOPHY
Thuật ngữ “triết học lục địa” thường được dùng để chỉ công trình của những triết gia đến từ phần lục địa của châu Âu. Tuy nhiên, trong phạm vi những nhà tư tưởng có thể được gọi như vậy, các cách tiếp cận đối với nhiều vấn đề triết học khác nhau lại đa dạng đến mức thật khó có thể xếp họ vào cùng một nhóm dưới tên gọi “các triết gia lục địa”. Tuy vậy, đúng là trong khoảng một trăm năm trở lại đây đã xuất hiện một sự phân rẽ giữa một bên là triết học phân tích Anh-Mỹ và bên kia là triết học như được thực hành trong truyền thống lục địa. Sự phân rẽ này có lẽ nên được hiểu đúng nhất như một sự phân chia diễn ra ở cấp độ thiết chế (tức trong các hệ thống đại học của châu Âu lục địa, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ). Nếu có một thời điểm then chốt góp phần định hình sự phân rẽ này thì có lẽ nên tìm nó trong công trình của các triết gia thuộc truyền thống phân tích hơn là trong công trình của các triết gia lục địa (chẳng hạn như công trình của Bertrand Russell và Gottlob Frege). Vì vậy, chẳng hạn, Russell, khi còn là sinh viên triết học ở Anh vào thời điểm triết học Hegel đang chiếm ưu thế trong hệ thống đại học, và bản thân ông khi trẻ cũng từng là một người say mê triết học ấy, về sau đã đi đến chỗ nhìn nhận với một thái độ nghi ngại rõ rệt những gì ông xem là sự thái quá của lối tư biện siêu hình học và thuyết duy tâm trong tư tưởng không chỉ của Hegel mà còn của những nhà tư tưởng như Schopenhauer và Nietzsche (xem cuốn Lịch sử triết học phương Tây (1946) của ông để có một ấn tượng rõ về thái độ này của ông). Thay cho lối tư biện như vậy, Russell và các triết gia phân tích khác đã đề xuất một diễn ngôn phân tích nghiêm ngặt, tập trung vào việc minh giải các định nghĩa của những khái niệm triết học then chốt (chẳng hạn như nghĩa, quy chiếu, ngôn ngữ). Trên hết, tính nghiêm ngặt của triết học phân tích có thể được đặc trưng hóa bằng cam kết của nó đối với một hình thức diễn ngôn chủ yếu mang tính logic, cùng với một cam kết đi kèm đối với cách hiểu chủ yếu mang tính siêu hình học về nghĩa của những thuật ngữ như “tính tất yếu” chẳng hạn. Các triết gia phân tích nhìn chung đã tìm cách làm sáng tỏ các vấn đề về nghĩa, và thường tránh xa những gì nhiều người trong số họ (thậm chí cho đến khá gần đây) vẫn xem là các tư biện duy tâm mơ hồ đặc trưng cho những nhà tư tưởng thuộc truyền thống lục địa (sự bác bỏ nổi tiếng của Gilbert Ryle đối với Tồn tại và Thời gian của Heidegger, khi ông xem tác phẩm ấy là không đáng đọc, có lẽ là biểu hiện tai tiếng nhất của thái độ này). Triết học lục địa, nếu quả thật ta dám mạo hiểm định nghĩa nó, có lẽ nên được hiểu đúng hơn khi được đặt vào bối cảnh của những cuộc tranh luận cụ thể về các vấn đề nhận thức, thay vì được đặc trưng hóa bằng cái gọi là tính chất “tư biện” của nó. Cách tiếp cận như vậy đặc biệt hữu ích, bởi vấn đề nhận thức là một mối quan tâm chung của cả truyền thống phân tích lẫn truyền thống lục địa, và vì thế, việc so sánh cũng như đối chiếu giữa hai truyền thống ở một mức độ nào đó là có thể xảy ra. Đương nhiên, có những ngoại lệ đối với cách trình bày được đưa ra dưới đây, nhưng chắc chắn những gì được bàn đến dưới nhãn gọi một cách tiếp cận “lục địa” vẫn thể hiện một điều gì đó khác biệt rõ rệt so với các phân tích của nhiều triết gia phân tích. Trong khi các triết gia phân tích có xu hướng xem xét các vấn đề về tri thức theo những bình diện có thể gọi là logic-siêu hình học (xem, chẳng hạn, tác phẩm thời kỳ đầu của Ludwig Wittgenstein, Tractatus Logico-Philosophicus (1921)), một bộ phận đáng kể các triết gia lục địa lại tiến hành nghiên cứu bằng cách nhấn mạnh thêm đến các nhân tố vật chất/thời gian có thể có ý nghĩa đối với tri thức. Vì vậy, chẳng hạn, cách Nietzsche lý giải sự phát sinh của tri thức là một cách lý giải tập trung vào việc phân tích các điều kiện vật chất vốn là nền tảng cho khả thể của tri thức ấy. Thật vậy, đối với Nietzsche, “tri thức” do đó được xem như hệ quả của một chuỗi các biến cố bất tất, trong khi các tiền điều kiện logic của tư duy thường được hiểu là không biểu thị một chứng cứ hữu thể học về việc thế giới tồn tại như thế nào (và do đó là một tiêu chí của tính khách quan và chân lý), mà chỉ là một dấu hiệu cho thấy sự bất lực của con người trong việc nghĩ về thế giới theo cách khác. Theo quan niệm của Nietzsche, việc chúng ta buộc phải tư duy một cách logic không cho phép chúng ta đi xa hơn để khẳng định rằng bản thân thế giới phải tuân theo những ràng buộc nghiêm ngặt của hình thức logic (xem các ghi chép của Nietzsche, như được xuất bản trong Ý chí quyền lực (1968b), trong đó có nhiều phiên bản của kiểu lập luận này), mà đúng hơn, chỉ cho thấy những điều kiện vật chất trong đó loài người đã phát triển. Điểm này có thể được minh họa thêm qua cách các nhà chú giải thuộc hai truyền thống phân tích và lục địa tiếp cận đề án của Kant trong Phê phán lý tính thuần túy (1964), tức đề án minh giải các điều kiện tiên nghiệm cần thiết cho khả thể của tri thức. Kant dùng cụm từ “tiên nghiệm” để chỉ cái độc lập với mọi kinh nghiệm thường nghiệm. Mặc dù, đối với Kant, mọi nhận thức đều là nhận thức về kinh nghiệm, song điều đó không có nghĩa là chính các điều kiện làm cho kinh nghiệm trở nên khả hữu lại được rút ra từ kinh nghiệm. Các nhà chú giải theo truyền thống phân tích (chẳng hạn Stroud 1984:153 trở đi) nhìn chung đã xem sự độc lập này là có một ý nghĩa siêu hình học. Đối với Stroud, “tiên nghiệm” luôn có nghĩa là độc lập với kinh nghiệm, và liên quan đến các điều kiện chủ quan (tức là những đặc điểm mà một chủ thể phải có để biết một cái gì đó), vốn có sẵn “ở trong” ta. Theo quan điểm của Stroud, các điều kiện ấy là những thuộc tính mà một tinh thần phải có để có khả năng nhận thức (1984:160). Đối với Stroud, các điều kiện chủ quan là những “đặc trưng” hay thuộc tính của con người. Chúng là những thuộc tính mà một tinh thần tất yếu phải có để nhận thức trở nên khả hữu đối với tinh thần ấy. Loại tính tất yếu được nói đến ở đây là tính tất yếu siêu hình học, tức là nó liên quan đến những điều kiện nhờ đó nhận thức trở nên khả hữu đối với ta. Các điều kiện tất yếu, được hiểu theo nghĩa này, không nhất thiết phải tồn tại trước (tức là có trước) cái mà chúng làm điều kiện cho nó. Do đó, trong cách lý giải của Stroud, khả năng hiểu “tiên nghiệm” theo nghĩa “đi trước kinh nghiệm” cũng đã bị bỏ qua. Trái lại, một nhà tư tưởng như Michel Foucault lại có một quan niệm khá khác về nghĩa của khái niệm “tiên nghiệm” của Kant, và quan niệm này phản ánh cách khái niệm ấy đã được triển khai trong truyền thống lục địa (xem Trật tự của sự vật (1970, được bàn dưới đây) và Khảo cổ học tri thức (1972) của Foucault). Foucault xem công cuộc phê phán của Kant là một bước ngoặt trong lịch sử triết học châu Âu (như mở ra thời kỳ hiện đại), đồng thời xem xét di sản của Kant trong các truyền thống Pháp và Đức. Do đó, ông cố gắng trình bày cách diễn giải mà ông cho là đã được tiếp nhận trong truyền thống (lục địa) về di sản này. Theo quan điểm của Foucault, quan niệm cổ điển về lý thuyết nhận thức có thể được đặc trưng như một quan niệm xem việc tìm kiếm các điều kiện của nhận thức là vấn đề thuộc về quan hệ giữa các biểu tượng (tức là câu hỏi các biểu tượng của ta về kinh nghiệm tương ứng với thực tại như thế nào). Trái lại, cách lý giải hiện đại của Kant không tìm cách xác định các điều kiện này ở cấp độ biểu tượng (Foucault 1970:241, 254), mà thay vào đó gạt vấn đề biểu tượng sang một bên để bàn đến câu hỏi về những điều kiện “trên cơ sở đó mọi biểu tượng, bất kể hình thức nào của nó, có thể được thiết định” (sđd.:242, 254–5). Theo cách lý giải của Foucault, một xuất phát điểm như vậy tương đương với việc phân tích “nguồn suối và căn nguyên [la source et l’origine] của biểu tượng” (sđd.:243, 256). Theo quan điểm này, khi quan tâm đến các điều kiện của nhận thức, Kant tập trung vào vấn đề những điều kiện có trước (tức đi trước) của nhận thức. Điểm này có thể được làm nổi bật bằng cách xét đến việc Foucault ngầm quy cho Kant một quan niệm về chủ thể như một “lưỡng thể thường nghiệm-siêu nghiệm” (sđd.:318, 329). Quan niệm này, theo lập luận của Foucault, đã làm nảy sinh hai kiểu phân tích về nhận thức của con người: (i) thuyết duy nghiệm quy giản, quan tâm đến “các điều kiện giải phẫu-sinh lý” của nhận thức; và (ii) một hình thức phân tích siêu nghiệm biện chứng, khảo sát các điều kiện lịch sử của nhận thức (sđd.:319, 330). Theo Foucault, cả hai kiểu phân tích này đều nhằm giải thích sự phát sinh của nhận thức, chứ không phải các điều kiện khả thể mang tính logic/siêu hình học của nhận thức. Kiểu thứ nhất tìm cách làm sáng tỏ sự phát triển lịch sử của nhận thức theo lối hồi cố (thuyết thực chứng), còn kiểu thứ hai tìm cách lý giải những điều kiện của nhận thức mà lịch sử phải đáp ứng (phép biện chứng) (sđd.: 320, 331). Trong cả hai trường hợp, đối tượng được phân tích đều là các tiền kiện [antecedent conditions] của nhận thức. Do đó, Foucault xem khái niệm Kant về tính tất yếu, tức cái làm nền tảng cho tính hiệu lực của nhận thức chúng ta, như một vấn đề thuộc về các tiền kiện của nhận thức. Được hiểu theo nghĩa này, cái “tiên nghiệm” là cái có trước kinh nghiệm (theo nghĩa thời gian). Từ sự so sánh này, có thể thấy rõ rằng hai truyền thống có xu hướng tách biệt với nhau không phải xét theo những loại câu hỏi mà chúng đặt ra (trong trường hợp này, câu hỏi liên quan đến các điều kiện tất yếu của nhận thức), mà xét theo cách câu hỏi ấy được xử lý. Sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của bình diện thời gian hoặc vật chất không chỉ có ở Nietzsche và Foucault (cả hai cũng đều bàn đến các vấn đề đạo đức và chính trị với sự chú ý đến vấn đề quyền lực, mà bản thân vấn đề này lại nảy sinh từ việc đặt trọng tâm vào phân tích vật chất về các quan hệ xã hội). Tương tự, trong Tồn tại và thời gian của Martin Heidegger, thời tính được xem là nền tảng cho bất kỳ diễn giải thành công nào đối với câu hỏi hữu thể học về ý nghĩa của Tồn tại. Cũng vậy, đối với Gilles Deleuze, thời tính được xem là cơ sở để xây dựng một lý giải về hữu thể học của “sự trở thành”. Dĩ nhiên, như đã nói, vẫn có những ngoại lệ đối với cách trình bày trên đây, và cần nhấn mạnh lại rằng sẽ là không đúng nếu hiểu “triết học lục địa” như một thuật ngữ bao trùm toàn bộ, dùng để chỉ một tập hợp học thuyết về việc nên tiến hành khảo cứu triết học như thế nào. Jacques Derrida, chẳng hạn, đã theo đuổi một cách tiếp cận không đi theo bình diện vật chất, nhưng đưa ra một lý giải về các quá trình biểu nghĩa, qua đó biến thái độ siêu hình học đối với các câu hỏi về nhận thức thành một vấn đề, trong khi đồng thời vẫn nằm trong phạm vi do tư duy siêu hình học phân định và hết sức nghi ngờ dự án lịch sử hóa mà Foucault tiến hành (xem những phê phán của ông đối với Foucault trong tiểu luận “Cogito và lịch sử của sự điên loạn” trong Viết và sự khác biệt (1978)). Tương tự, Jean-François Lyotard thật ra nên được mô tả như một nhà tư tưởng vận dụng nhiều chiến lược chung cho cả truyền thống phân tích lẫn truyền thống lục địa (và quả thực, ông xây dựng các luận cứ của mình trên cơ sở sự am hiểu các công trình của Russell, Frege và Wittgenstein cũng như của Hegel, Nietzsche và Heidegger). Đọc thêm: Foucault 1970; Hylton 1990; Kearney and Rainwater 1996; Silverman and Welton 1988; Stroud 1984; West 1996
Đinh Hồng Phúc dịch Nguồn: Andrew Edgar, Peter Sedgwick. Cultural Theory: The Key Concepts. Routledge, 2008.
|
Ý KIẾN BẠN ĐỌC