Góc đọc sách

Giới thiệu sách: Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản của Jean-Paul Sartre

LỜI GIỚI THIỆU SÁCH:

THUYẾT HIỆN SINH LÀ MỘT THUYẾT NHÂN BẢN

CỦA JEAN-PAUL SARTRE

 

ARLETTE ELKAÏM-SARTRE

 


Arlette Elkaïm-Sartre, “Hoàn cảnh bài thuyết trình”, trong Jean-Paul Sartre: Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản. Đinh Hồng Phúc dịch, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2015.


 

Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản là văn bản tốc ký, được Sartre sửa lại, của buổi thuyết trình được tổ chức ở Paris vào thứ Hai ngày 29 tháng Mười năm 1945 theo yêu cầu của Câu lạc bộ Maintenant, do Jacques Calmy và Marc Beigbeder lập ra trong thời kỳ Giải phóng với mục đích “thúc đẩy hoạt động văn học và trí tuệ”; văn bản này được Nhà xuất bản Nagel ấn hành trong năm sau đó. Tại sao tác giả của Tồn tại và Hư vô (1943) lại muốn người ta chấp nhận chủ nghĩa nhân bản trong học thuyết của mình?

Ta cần nhớ rằng hai tập đầu tiên của bộ Những con đường của Tự do ngay từ lần đầu xuất bản đã gây được tiếng vang cũng như xì-căng-đan về chúng. Chúng ta không cần bàn nhiều về chi tiết của bộ sách, trong tập Tuổi trưởng thành và trong Ân xá, đã khiến cho các nhà tư tưởng chính thống thời ấy khó chịu. Nhân vật chính trong đó bị đánh giá là nhu nhược hay khờ khạo. Sartre viết: “Tôi nghĩ rằng điều gây khó chịu nhất về các nhân vật của tôi là sự sáng suốt của họ. Họ biết họ là ai và đó là điều họ chọn để tồn tại.” Dù thiếu bến đỗ và không tự tin, Mathieu rõ ràng ít có nét chung với mẫu nhân vật sử thi hay nhân vật tích cực; cái quý giá duy nhất của anh, trong cuộc tìm kiếm bền bỉ một đời sống tự do đích thực - mang âm hưởng của cuộc truy tầm triết học trong Tồn tại và Hư vô -chính là sự sáng suốt khô khan ấy, cũng là nỗi khổ của anh ta. Điều xảy ra đối với anh, hay điều anh làm không mấy thực tế; anh không bắt đầu từ cuộc sống thực. Điều mà người ta chưa thấy đầy đủ đó là tấn kịch của trí tuệ và luân lí của một ý thức đang hình thành, mà sự tiến triển của nó vẫn chưa dừng ở cuối quyển thứ hai. Chắc chắn là vì cả hai quyển tiểu thuyết này, vả lại chúng còn có những người biện hộ nhiệt tình, dễ đọc hơn các công trình triết học, và việc xuất bản chúng làm cho thuyết hiện sinh của Sartre có tiếng vang xa rộng; những cuộc tranh luận xoay quanh những khẳng định của Sartre trở nên nặng nề và rối ben vì cái mà ngày nay người ta ắt phải gọi là hiện tượng truyền thông - quảng cáo thổi phồng và hổ lốn, thù địch công khai hay ngấm ngầm, lối thông thái rởm - mà các lí do của nó vẫn còn chưa rõ. Kết quả của điều này là sự xâm nhập gần như lẫn nhau: của người viết qua sự tai tiếng khiến anh ta phải sửng sốt, và của công chúng qua thuyết hiện sinh; những ngữ thức không nằm trong ngữ cảnh nào như “Địa ngục là người khác”, “Hiện hữu đi trước bản chất”, “Con người là một đam mê vô ích” tản mác trên các tờ báo theo lối giật gân, được coi như là các khẩu hiệu quái gở.

Về những lời phê phán từ các trí thức, vốn không đếm xỉa tới sự xúc phạm, chúng vẫn còn chưa dựa trên sự khảo sát thật thấu đáo tác phẩm Tồn tại và Hư vô[1]: ngoài chủ nghĩa vô thần của ông, những người Kitô đã phê phán Sartre là nhà duy vật, trong khi đó những người cộng sản lại chê trách ông không phải là nhà duy vật; nhóm người trước trách móc ông là “đặt một cách tùy tiện tính thứ nhất của cái tự-mình”, còn nhóm người thứ hai coi đó là chủ nghĩa chủ quan; các ý niệm về sự bất tất, tình trạng bị bỏ rơi, lo âu gây khó chịu cho cả hai phía. Có phải cách dùng ngôn ngữ đầy quyết liệt của lối phản bác này, mà Sartre cảm thấy là đầy hằn học, liên quan đến mỗi điều là các tinh thần, sau thảm họa của chiến tranh, bị (như cách nói của một trong những lời gièm pha về ông) “