Thuật ngữ tổng quát

Siêu hình học (metaphysics)

 

Siêu hình học (metaphysics)

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50
                                                 

NICULAS BUNNIN & JYJUAN YU

ĐINH HỒNG PHÚC dịch

 

 

SIÊU HÌNH HỌC. Ban đầu thuật ngữ này được dùng làm nhan đề cho một tập tài liệu sưu tầm các tác phẩm của Aristotle, theo truyền thống của Andronicus xứ Rhodes ở thế kỷ thứ nhất. Nhan đề Ta meta ta phusika được dùng vì tập tài liệu sưu tầm này xuất hiện sau (meta) các tác phẩm bàn về vật lý học trong cách phân loại các công trình Aristotle. Tuy nhiên, quan điểm này có cơ sở triết học trong vấn đề bàn luận của nó, vì Aristotle có ý định tiến hành việc nghiên cứu các đối tượng có trước hay cao hơn các đối tượng vật lý, bằng cách đưa ra những lý do cho những gì mà chúng ta tin theo bản năng. Vì thế, nhan đề này có thể áp dụng cho toàn bộ ngành triết học. Giờ đây, siêu hình học chủ yếu được dùng để chỉ việc nghiên cứu về những bộ phận hay đặc điểm cơ bản nhất của thực tại (hữu thể học/bản thể học) hay nghiên cứu các khái niệm cơ bản nhất được sử dụng trong việc giải thích thực tại. Theo một số cách giải thích, siêu hình học chủ yếu nghiên cứu các thực thể phi-cảm tính hay các sự vật ở bên ngoài phạm vi của phương pháp khoa học, nhưng cũng có những quan niệm siêu hình học khác phản bác các khẳng định này.

Bản thân Aristotle gọi loại tìm tòi nghiên cứu này là đệ nhất triết học hay sophia (minh triết), nghĩa là, khoa học về các nguyên nhân và nguyên tắc tối hậu. Đôi khi ông cũng nói rằng đó là khoa học về tồn tại với tư cách là tồn tại (being qua being), hay nói đơn giản là tồn tại. Đôi khi ông đồng nhất nó với thần học bởi lẽ nó liên quan đến một loại tồn tại đặc biệt, ở bên trên các bản thể cảm tính, Thượng đế. Các triết gia thời Trung đại lần lượt gọi các phương diện này của siêu hình học là metaphysica generalis (siêu hình học tổng quát) và metaphysica specialis (siêu hình học đặc thù hay chuyên biệt). Trong truyền thống duy lý, siêu hình học được coi là nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của lý tính thuần túy về bản tính của thực tại nền tảng nằm bên ngoài phạm vi của tri giác, mặc dù các nhà siêu hình học chủ chốt, như Plato, Descartes, Spinoza, Leibniz, và Hegel, đều bất đồng ý kiến về cái gì là thực tại nền tảng. Christian Wolff phân chia siêu hình học thành bốn phần: hữu thể học/bản thể học (lý thuyết tổng quát về tồn tại hay hiện hữu), lý thuyết thuần lý (về Thượng đế), tâm lý học thuần lý (về tâm hồn), và vũ trụ học thuần lý (về thế giới).

Kant gọi tất cả những nỗ lực sử dụng lý tính thuần túy để giải thích thực tại siêu việt vượt ra khỏi giác tính của con người là siêu hình học tư biện. Kant nghĩ rằng siêu hình học là xu thế tất yếu của tinh thần con người hướng tới việc giải thích toàn diện và rằng vấn đề siêu việt của nó (Thượng đế, sự Tự do của ý chí, và linh hồn bất tử) có thể là cơ sở cho cách ứng xử đúng đắn (siêu hình học về luân lý), cho dù siêu hình học tư biện không thể mang lại nhận thức. Triết học phê phán của Kant là siêu hình học theo một nghĩa khác, đó là siêu hình học xem xét các điều kiện của khả thể kinh nghiệm và các tiền giả định của khoa học.

Carnap và các nhà thực chứng lôgic khác định nghĩa siêu hình học là lĩnh vực của cái gọi là nhận thức về bản chất của các sự vật vượt ra khỏi phạm vi của các khoa học thường nghiệm, và tin rằng lĩnh vực này nên bị loại ra như là cái vô nghĩa lý (nonsensical). Mặt khác, họ xét thấy rằng công việc của chính họ là thu hẹp vào lôgic và kinh nghiệm và nên được gọi là triết học khoa học.

Vì những động cơ khác nhau, Heidegger và Derrida cũng tìm cách loại trừ siêu hình học ra khỏi tư tưởng của họ, cho dù họ không tự bằng lòng với chính mình để cho rằng họ đã thành công trong việc ấy.

Strawson có một sự phân biệt nổi tiếng giữa siêu hình học xét lại và siêu hình học mô tả. Ông gọi các nhà siêu hình học tư biện là siêu hình học xét lại, đối lập với siêu hình học mô tả. Siêu hình học xét lại liên quan tới giản đồ khái niệm dựa vào đó mà chúng ta tư duy và bàn luận về thế giới. Do đó, thuyết thực chứng lôgic và các học thuyết triết học phản-siêu hình học khác tự chúng là một loại siêu hình học trong chừng mực chúng còn xét đến cấu trúc khái niệm của ngôn ngữ và tư duy con người.

Theo một cách dùng đặc biệt gắn với chủ nghĩa Marx, siêu hình học được coi là một phương thức tư duy cục bộ, tĩnh tại và cô lập, đối lập với phép biện chứng của Hegel.

 

Đối với chúng ta, siêu hình học là tên gọi của một khoa học, và đã tồn tại qua nhiều thế kỷ, vì trong nhiều thế kỷ nó đã được người ta nhận thấy là cần thiết, và vẫn còn được nhận thấy là cần thiết, để suy tư một cách có hệ thống hay có trình tự về các vấn đề mà Aristotle đã bàn trong nhóm các khảo luận được biết đến chung với nhau bằng thứ khoa học ấy.” Collingwood, Tiểu luận về siêu hình học.

 

 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: dinhhongphuc2010@gmail.com.
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt