Chủ nghĩa Marx

Giải phóng con người và chủ nghĩa cộng sản vào cuối thế kỷ XX: "Bắt đầu bằng sự kết thúc"

 

GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VÀO CUỐI THẾ KỶ XX:

“BẮT ĐẦU BẰNG SỰ KẾT THÚC”

Laurent Lemarchand

Tóm tắt:

Vốn là một người nghiên cứu chủ nghĩa Marx lâu năm ở phương Tây, tác giả khẳng định rằng: sự giải phóng con người là một khái niệm cơ bản trong chủ nghĩa Marx, và về mặt tư tưởng, là nguồn động viên, là mục tiêu đầy sức thuyết phục cho những phong trào cách mạng kể từ trên một thế kỷ nay, trước hết là các phong trào công nhân. Tuy vậy, những năm gần đây, đã có sự hiểu biết hoặc không đầy đủ, hoặc sai lệch, thậm chí đầy nghịch lý về khái niệm giải phóng. Người ta cũng không thể bỏ qua mưu toan hòa nhập khái niệm giải phóng vào những khái niệm khác, và như thế xóa bỏ bản thân mục tiêu giải phóng và sự nghiệp giải phóng con người. Tìm hiểu nguyên nhân tình trạng này, tác giả muốn có một sự phân tích lý luận và thực tiễ ng”. Theo ông, do điều kiện của cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luận đương thời, do sự hình thành tư duy của Marx trong quá trình lý giải về chủ nghĩa cộng sản, thì khái niệm giải phóng ở ngay bản thân các nhà kinh điển mác-xít cũng còn có những chỗ phiến diện và tất nhiên không đáp ứng được hết những diễn biến thực tế về sau. Những diễn biến này, đặc biệt trong thời đại ngày nay, một mặt đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cho sự giải phóng con người, mặt khác cũng tạo điều kiện cho nhiều cách hiểu khác nhau, hoặc vô tình hoặc cố ý về sự giải phóng đó. Tác giả không quên phân tích về những thiệt hại của chủ nghĩa xã hội hiện thực – hình ảnh đầu tiên về chủ nghĩa cộng sản – cũng như hoạt động của các nhà lý luận cộng sản chủ nghĩa trong thời gian qua, đã là cơ sở cho số phận của cụm từ “giải phóng con người”.

Tuy vậy, theo tác giả, sự nghiệp giải phóng con người, vẫn là một vấn đề nóng bỏng đặt ra trong thời đại ngày nay, nếu ta hiểu được nó theo một ý nghĩa thực sự phù hợp, một ý nghĩa không hề rập khuôn theo bất cứ một tư tưởng nào đã có trước đây. Và như vậy, cả tiến trên bình diện lý luận và thực tiễn, chúng ta đang “bắt đầu bằng sự kết thúc”.

Những luận điểm đưa ra ở đây tất còn có những chỗ cần đánh giá trao đổi, nhưng ta có thể coi đó là những gợi ý để suy nghĩ thêm về một vấn đề quan trọng của học thuyết Marx đặt trong bối cảnh thời đại ngày nay, đồng thời biết thêm những khuynh hướng nghiên cứu và đánh giá học thuyết Marx đang diễn ra trong thế giới.

 

Dựa vào công trình được tiến hành từ một năm nay về lịch sử giải phóng con người trong bối cảnh cuộc Gặp gỡ quốc tế ở Paris – La Villette tháng 12/2000, theo sáng kiến ban đầu của “Espaces Marx”, bài viết này có mục đích đề cập (một cách khiêm tốn) trong phạm trù này, đến vai trò lý thuyết và hiện thực mà sự giải phóng con người phải có được đối với cuộc đấu tranh của phong trào công nhân tiến bộ kể từ sự nghiệp sáng lập của Marx và Engels vào những năm 1840. Đồng thời, vì hai khái niệm này về mặt nội tại có liên quan đến nhau, mối quan tâm đến giải phóng con người cũng đưa chúng tôi đến việc đặt vấn đề về CNCS trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn: hai phạm trù trung tâm này trong hệ tư tưởng của phong trào công nhân đã có gần như cùng một lịch sử qua các thế kỷ XIX và XX. Nhận định này, cho phép khẳng định một số luận điểm của Lucien Sève, đưa chúng tôi đến chỗ xem xét lại mối quan hệ cần phải được thiết lập hoặc được tôn trọng giữa sự giải phóng con người và cuộc đấu tranh cách mạng, và như vậy là chủ nghĩa Marx. Từ thời kỳ Ánh sáng, thời kỳ của những người theo thuyết phổ biến và những người có khuynh hướng tiến bộ, sự giải phóng nhân loại vẫn là lý do tồn tại cho tiến trình hoạt động của chúng ta.

Giải phóng con người: một thực trạng nghịch lý hiện nay

Từ hơn hai chục năm nay, ít nhất ở phương Tây và dĩ nhiên ở cả những nơi khác, khái niệm giả phóng con người chịu một sự khủng hoảng thật sự về ý nghĩa, buộc nó phải được xem xét lại. Nó vừa bị lạm phát lại vừa tàn lụi đi trong cách sử dụng: có một lịch sử phong phú về ngữ nghĩa học, thuật ngữ này đã phải chịu nhiều lời tốt cáo bởi mọi áp lực đang có và có thể có; nhưng đồng thời, sự quá tải về ngữ nghĩa cũng làm loãng đi rất nhiều ý nghĩa những tham chiếu về nó, sự giải phóng bị coi như một miếng mồi về tư tưởng và góp phần vào cái mà tư tưởng thống trị gọi là cuộc khủng hoảng hệ tư tưởng, của cánh tả và tất nhiên là của phong trào công nhân và tiến bộ. Thậm chí ở phương Tây, sự giải phóng giai cấp công nhân hình như đã đánh mất chức trách lật đổ là chức trách cơ bản đối với sự tiến triển xã hội, thường được hiểu như là một sự hội nhập khoan hòa của giai cấp này.

Tuy nhiên, được nuôi dưỡng bằng những xung đột trên thực tế, vấn đề giải phóng vẫn luôn được đưa ra và hình như được đổi mới trong những năm gầy đây. Chẳng hạn, rõ ràng là ngày nay, trong dư luận chung, sự giải phóng thường đối đầu với sự thống trị hơn là sự bóc lột, và nó liên quan đến những vấn đề về quyền lực hơn là về các mối quan hệ kinh tế – xã hội, ít nhất là ở phương Tây. Trong các phong trào và lục lượng tiến bộ khác nhau, thuật ngữ này ngày càng xuất hiện nhiều: nó có thể cắt nghĩa cho các cuộc tranh luận và các vấn đề giằng co thật sự, mà đó lại là điều kiện cho sức sống của nó. Ta hãy lấy hai minh họa khác nhau: trong phong trào chống toàn cầu hóa, sự giải phóng nảy nở khắp nơi (ở Genève tháng 7/2000 chẳng hạn), và “Espaces Marx” có ý định kiểm tra giá trị của nó như một phạm trù cốt yếu qua cuộc Gặp gỡ quốc tế ở Paris – La Villette. Thứ hai, trong phong trào tiến bộ châu Âu, các nghiên cứu dành cho sự giải phóng hay rõ ràng dựa vào khái niệm này lại đang gia tăng.

Từ đó có một câu hỏi đơn giản cũng chính là cách đặt vấn đề của tham luận này: đâu là giá trị và ích lợi của sự cầu viện mới này đến một khái niệm mà, như đã nói, từng bị các địch thủ của chúng ta phản đối nhân danh ngay những gì đã xảy ra thực sự trong thế kỷ XX? Đâu là vai trò và tầm quan trọng dành cho một giá trị đã quá tải về ngữ nghĩa và có xu hướng thay thế cho những giá trị khác, kể cả CNCS và CNXH? Điều này không phải là không có những vấn đề được thua quyết liệt, khi mà tư tưởng tiến bộ và đặc biệt là tư tưởng mác-xít từ lâu đã rất nghèo nàn về mặt này: chỉ cần nhìn vào thư mục trống rỗng đối với chủ đề này là ta có thể tin như vậy.

Một khái niệm hoặc phạm trù mà lịch sử đã đặt trong lòng chủ nghĩa Marx và phogn trào công nhân

Vì vậy chúng ta phải nghiên cứu kỹ hơn về khái niệm giải phóng con người. Nhằm phục vụ cuộc gặp gỡ ở La Villette, tôi đã tổ chức một công tác nghiên cứu tập thể về lịch sử của khái niệm này, mà ở đây tôi muốn đưa ra một vài yếu tố làm sáng tỏ.

Từ giải phóng (émanicipation) bắt nguồn từ ngôn ngữ Latin emancipare và từ thời Cổ đại đã có một nghĩa pháp lý sở đẳng là đạt đến độ tuổi thành niên và quyền tự chủ của trẻ em. Nghĩa này tồn tại suốt thời Trung cổ nhưng đồng thời cũng thâm nhập sang các lĩnh vực mới (với sự giải phóng các nông nô khỏi lãnh chúa, hay trong Giáo hội, sự giải phóng các thầy tu khỏi giám mục). Những ý nghĩa mới và sự trừu tượng hóa ngày càng tăng của khái niệm này đặc trưng cho thời Cận đại (thế kỷ XVI – XVIII) với việc đề cao cá nhân và sự nổi lên về mặt triết học của cái tôi. Vì vậy thế kỷ XVII đã tạo ra cái nghĩa đầy phóng túng của từ này: giải thoát khỏi những tiêu chuẩn chính thức và đạo đức một cách tích cực hay tiêu cực nhưng phải mang tính lật đổ.

Vào thế kỷ XVIII, sự giải phóng con người trong chừng mực nào đó là kết quả tổng hợp của hệ thống phân tích và các giá trị của thời kỳ Ánh sáng: vì thế Kant đã sử dụng nó làm diện mạo trung tâm cho tập sách Thời kỳ Ánh sáng là gì? ra đời năm 1784 của mình. Như đời năm 1784 của mình. Như vậy ông đã xác lập ý nghĩa hiện nay của từ giải phóng: tổng hợp từ thời kỳ Ánh sáng này, ông kết hợp năm khái niệm chính: lý trí, tiến bộ, tự do/giải phóng, phẩm giá và, trong chừng mực ít hơn, là bình đẳng, vì ở đây chỉ là một sự bình đẳng trừu tượng. Dù thế nào thì từ lúc đó lịch sử cũng đã có một ý nghĩa và một mục đích, đồng thời cũng có một tính phổ biến vì toàn bộ loài người đều liên quan trong đó. Như hình tượng nhân loại bước ra từ bóng tối của chính sách ngu dân tôn giáo hoặc chính trị, lịch sử, mang tính tập thể, trở thành đồng nghĩa với sự giải phóng ngày càng tăng lên. Cách mạng Pháp xác nhận và muốn cụ thể hóa cái định nghĩa mới này khi Saint – Just tuyên bố rằng “hạnh phúc là một tư tưởng mới của châu Âu”… Như vậy, sự giải phóng con người, một quan niệm của cuộc đấu tranh phi giáo hội trong thế kỷ Ánh sáng, đã chứa đựng một ý nghĩa chính trị, cộng sinh với hiện tượng chính trị hóa của phong trào này.

Như vậy là có sự tương đồng giữa sự giải phóng với cuộc Cách mạng Pháp và, vì vậy, với cách mạng nói chung khi cách mạng là phương thức chính để làm điều đó. Nhưng sự tương đồng này chỉ có sau cuộc Cách mạng Pháp, một cuộc cách mạng ít sử dụng thuật ngữ này, nhất là vì nó không thể nhận ra mình trong đó; tập sách của Kant năm 1784 có chất cải lương, cũng tán tụng thuyết Tuyệt đối Sáng suốt trong “Thế kỷ của Frédéric” này (tên của vua Phổ Frédéric II, một trong những hình mẫu về mặt này). Vì thế sự đồng hóa ngữ nghĩa bắt nguồn từ một cách giải thích có về sau, nhất là bởi những nhà tư tưởng của phogn trào công nhân nổi lên trong nửa đầu thế kỷ XX. Họ nắm lấy khái niệm này và đặt nó vào trong địa hạt xã hội. Với yêu sách đòi giải phóng phụ nữ từ năm 1808, Fourier đã đóng một vai trò quan trọng; nhưng chính là Marx và Engels trong những năm 1840, theo cách của Kant đối với triết học của thế kỷ Ánh sáng, đã tác động một cách quyết định đối với giai đoạn mới và sự đột biến mới này.

Điều đặc biệt đáng lưu ý – và ở đây phải có chỗ để dẫn ra những bài viết nhằm làm rõ những biến chuyển về nghĩa, đó là sự quá độ nổi tiếng từ “Marx thời trẻ”, người theo chủ nghĩa nhân văn và còn chìm ngập trong triết học Đức, thành Marx chín muồi của “Hệ tư tưởng Đức” diễn ra chủ yếu bằng việc huyển từ những suy nghĩ về giải phóng, giải phóng chính trị sau khi đã là giải phóng tôn giáo… thành giải phóng xã hội, được nhận định là then chốt đối với sự giải phóng hoàn toàn. Nhưng xử lý phạm trù của Kant này, chính là động chạm mạnh mẽ tới vấn đề của chủ thể: quả thật Kant đánh giá rằng sự giải phóng là kết quả của một vận động và ý chí cá nhân. Marx đảo lộn những dữ liệu này bằng cách đặt vấn đề các điều kiện của nhận thức này. Vì thế, qua các bài viết của mình, ông đã xây dựng lại khái niệm này, đánh đổ nó cũng như những khái niệm khác và suy nghĩ lại về nó, chẳng hạn bằng việc kết hợp theo cách mới kích thước cá nhân và kích thước tập thể. Và cũng như Kant đối với thời kỳ Ánh sáng, ông trở thành vectơ chuyển tải mới của nó trong lòng phong trào công nhân quốc tế. Như vậy, theo ý tôi, Marx giữ một vai trò vừa cơ bản vừa quyết định, nhưng trong một bối cảnh đang thai nghén. Ngày nay vấn đề không phải là rơi vào sự tô hồng hay tách chủ nghĩa Marx khỏi bối cảnh của nó nữa. Nếu Marx và Engels kiên trì đi cùng một hướng sau năm 1848, chính là trong khuôn khổ của cách sử dụng được phổ biến từ lúc đó của thuật ngữ giải phóng trong phong trào công nhân, kể cả bởi những người đối địch với họ. Ngoài ra, điều này dẫn họ đến chỗ khai thác sâu hơn công trình của mình về khái niệm này, vì nó có vai trò then chốt trong nhiều cuộc tranh luận hoặc đấu tranh giữa các trào lưu vào thời kỳ đó. Chủ yếu ta hãy kể ra phái vô chính phủ hay tự do vô chính phủ, là phái sẽ sử dụng từ này nhiều nhất. Sau Proudhon là người sử dụng từ này một cách thất thường, sự đối đầu giữa Marx và Bakounine cũng diễn ra ở đây: Ulrich Weiss đã đề cao thuật ngữ này năm 1872 khi mà Bakounine bác bỏ kiểu giải phóng do Marx đưa ra, bị coi là làm mất quyền sở hữu và cuối cùng là làm tha hóa tất cả vừa ở trong cách thực hiện (việc chiếm lĩnh Nhà nước và chuyên chính vô sản), vừa ở trong nội dung (một kiểu CNCS bị coi là độc đoán và tập trung) cũng như ở những tác nhân của nó (những tổ chức vô sản có cơ cấu, nhất là về mặt chính trị).

Như vậy, từ ngữ mới mang tính vô sản này có thể giải thích hay hàm chứa những cuộc tranh luận và những vấn đề gay cấn trong phong trào công nhân, một điều mà ta vẫn dễ dàng nhận thấy vào đầu thế kỷ XX chẳng hạn ở Đức, chủ nghĩa xét lại của Bernstein cũng mượn con đường giải phóng để phản đối giá trị những phân tích của Marx và mối quan hệ được thiết lập giữa giải phóng và cách mạng, trong khi ngược lại, tính nhạy cảm của Rosa Luxemburg lại muốn hướng nó về sự tự giải phóng.

Một câu hỏi cần thiết về phạm trù giải phóng con người

Qua việc nhắc lại lịch sử này, sức sống và chỗ đứng mà phạm trù giải phóng con người giành được trong lòng phong trào công nhân, và thậm chí vượt cả ra ngoài, trên toàn thế giới nói chung với sự toàn cầu hóa trong thế kỷ XX, có thể gây ngạc nhiên. Chúng ta quay lại với quan điểm được đưa ra tại điểm xuất phát” vừa quen thuộc vừa xa lạ. Chẳng hạn về mặt lý thuyết, sự giải phóng là một khái niệm hay một phạm trù, mang tính nhân học hay chỉ là một giá trị tham chiếu đơn giản? Cuộc khủng hoảng tác động đến nó không chỉ bắt nguồn từ phái tự do hay phản động, chẳng hạn chủ nghĩa tự do không thể chấp nhận tính chất xung đột và tập thể của khái niệm này. Những cuộc cãi cọ ngay trong lòng chủ nghĩa Marx cũng dẫn đến sự lên án khái niệm này: chẳng hạn trong những năm 1950, chủ nghĩa Marx được Stalin hóa ở Liên Xô đã coi nó như một thuyết duy tâm… Là phản động để không tác biệt của sự tước đoạt, vì vậy nó cũng phải chịu mối ác cảm tương tự, cùng với sự tách biệt mang tính loại bỏ giữa Marx thời trẻ và Marx chín muồi: điều này cũng bao trùm tư tưởng của Althusser ở Pháp chẳng hạn.

Với những yếu tố đó, chúng ta có thể chỉ ra rằng có thể làm sống lại truyền thống lịch sử của đời sống trí thức trong phong trào công nhân và chủ nghĩa Marx qua đề tài giải phóng con người. Ngoài ra, cũng cần đào sâu câu hỏi này vì nó không chỉ mang tính lý thuyết mà còn có thể xác định cách hiểu và cách hành động của chúng ta đối với những vấn đề thực tế.

Tôi muốn kể tóm tắt ra đây hai ví dụ: đồng thời với sự giải phóng, ngày nay nổi lên một từ thừa là sự tự giải phóng, một thuật ngữ theo ý tôi đã ra đời trong lòng phái tự do vô chính phủ của Quốc tế vào nửa sau thế kỷ XIX, và thể hiện một quan niệm khác biệt, thậm chí là tách rời với sự thừa nhận của đa số và ít nhiều mang tính mác-xít vào thời kỳ đó. Ngày nay cũng vẫn thế, sự lặp lại này lại tái diễn sau sự sụp đổ của phe XHCN, một sự tự tan rã có thể được hiểu là thất bại của con đường giải phóng ban phát từ bên trên, nhất là bởi một bộ máy chính trị lãnh đạo. Theo cách đó, người ta thấy thể hiện vấn đề về cấu trúc (đang diễn ra) của phong trào thế giới hay quốc tế chống lại toàn cầu hóa TBCN, vấn đề về vị trí của các tổ chức chính trị và bản chất cũng như cơ cấu của chúng, và ở nền tảng là vấn đề lại nảy sinh về chủ nghĩa công nhân. Ví dụ thứ hai, lần này mang tính lý thuyết và liên quan đến chủ nghĩa Marx do hiện tượng đồng hình, nghiên cứu về phạm trù giải phóng đem lại những dữ liệu mới cho cuộc tranh luận về vị thế sự tha hóa ở Marx, một khái niệm chỉ có ở Marx thời trẻ theo phân tích của Althusser và vị thế của một trào lưu thống trị từ lâu trong chủ nghĩa Marx của Pháp, và được khái niệm bóc lột thay thế từ khi hình thành chủ nghĩa duy vật lịch sử. Thế nhưng phản đề của sự tha hóa tức là sự giải phóng, lại vượt qua được và tiếp tục tồn tại ngay chính giữa những quan điểm của Marx, tất nhiên không phải là không có một vài biến thái mới, nhưng không đánh mất đi tính tổng thể của mình và vì vậy không rút giảm những phạm vi của nó về những phạm vi hẹp hơn và có tính khu vực hơn của khái niệm bóc lột. Và lại, có ai khác ngoài Marx đã liên kết thành một cặp biện chứng “sự tha hóa và sự giải phóng con người”, khi mà hai khái niệm này đã có một lịch sử khác cho đến tận những năm 1840?

Vậy thì tại sao Marx và Engels đã lựa chọn và ưu tiên thuật ngữ này trong khi mà kể từ cuộc Cách mạng Pháp, nhiều từ khác đã cạnh tranh thành công với nó? Chẳng hạn các nhà cách mạng những năm 1786 – 1799 thích dùng hơn từ “tái sinh”, “tái lập”… Nhiều lý do khác nhau có thể đã làm cơ sở cho Marx và Engels trong cách lựa chọn của mình: do sự phong phú về ngữ nghĩa của nó, thuật ngữ này có thể dùng làm công cụ hay dấu hiệu nhận biết, hiện thân cho những cuộc đấu tranh xã hội và chính trị đa dạng vào thời kỳ đó, như giải phóng nô lệ, giải phóng người Do Thái, giải phóng phụ nữ… Ngoài ra trong những năm 1840, các thành viên phong trào công nhân Pháp và các bạn bè người Đức lưu vong ở Paris ngày càng sử dụng thuật ngữ đó. Và, như ta đã biết, tư tưởng tiến bộ (và thậm chí cả tư tưởng phản cách mạng) đã hợp nhất giải phóng với cách mạng. Do đó, được hai người bạn Marx và Engels “gia công” lại, “phạm trù tổng thể này của lịch sử nhân học ít mang tính thuyết minh hơn là diễn giải, lại càng có tính chỉ trích rộng rãi và hướng đến tương lai, triết lý nhưng không hề lung tung (có thể trở thành) tuyệt đối cần thiết để có quan niệm về quỹ đạo của loài người trong lôgích chung của nó”. Lời dẫn này của Lucien Sève về sự tha hóa cũng được áp dụng cho cả từ di sóng đôi với nó là sự giải phóng con người. Vì thế từ này có thể có được một vị trí đúng đắn trong chủ nghĩa duy vật lịch sử, cũng như trong cả chủ nghĩa duy vật biện chứng. Vào thời kỳ đó, trên nhiều phương diện nhạy cảm đối với Marx, từ giải phóng đã là một thuật ngữ phong phú hơn từ “đem lại tự do” hay “giải phóng”. Chẳng hạn nó dựa trên và nhấn mạnh thậm chí đến tính chất xung đột, nó đặt ra sự tha hóa và báo trước cuộc đấu tranh lật đổ, do đó nó dễ dàng dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp và sự phá bỏ mang tính cách mạng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đến sự mâu thuẫn và thời kỳ đối kháng của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nó cũng ngầm hiểu là phải có sự tồn tại của một trạng thái cao hơn một khi sự phá bỏ đã được tiến hành và mâu thuẫn đã qua. Ở mức tiêu biểu nhất, giải phóng con người là một phạm trù của chủ nghĩa Marx, được Marx hóa trong chừng mực nào đó.

Mối quan hệ chủ nghĩa cộng sản giải phóng con người: các phương tiện và các mục đích

Một lần nữa, tình thế nước đôi của khái niệm giải phóng lại nổi lên nếu như phạm trù này tỏ ra thiết yếu đến thế đối với chúng ta, tại sao sự thiếu hụt trong thư mục và nhất là về lý thuyết, đã được nêu ra trên đây, lại có thể xảy ra được? Bởi vì điều này đã được đem đến do một vận động lịch sử vốn làm nên sức mạnh của nó. Vì thế sự thờ ơ là điều có thực ở thậm chí cả những người bảo vệ phong trào công nhân và tiến bộ trong thế kỷ XX: tôi nghĩ đến vùng ảnh hưởng của phái dân chủ – xã hội đã xa rời họ cũng như xa rời cách mạng, mà bản tổng kết của nó chứa đứng phần lớn thất bại của CNXH, nhưng trong vùng ảnh hưởng của CNCS và trào lưu cách mạng, thuật ngữ này cũng có xu hướng mạnh là thoái lui về lượng cũng như về chát, xuất hiện dưới hình thức một tính từ dùng chỗ nào cũng được và một giá trị tham chiếu đơn giản, và đặc biệt không phải như một khái niệm hành động. Cho dù họ có khắc thuật ngữ này trong điện Panthéon của mình, các chế độ XHCN hiện thực đã hạ thấp giá trị của nó, và các nhà lý luận cũng hành động tương tự.

Thế mà số phận như vậy của sự giải phóng lại trùng với số phận của CNCS như Lucien Sève đã xác định. Vì thế theo tôi hình như phải đi xa hơn, hình như ta có thể khẳng định rằng lịch sử của giải phóng trong địa hạt CNCS đã xác minh những luận đề của ông về CNCS. Quả thật cần nhớ lại rằng giải phóng con người trong một chừng mực nào đó là cùng tồn tại với CNCS, mà nó vừa là mục đích cũng vừa là một tên gọi khác. Như vậy, sự tha hóa và sự giải phóng chiếm một vị trí then chốt trong chủ nghĩa Marx vì chúng là những phần quyết định trong tính cá nhân, tạo thành nền tảng cụ thể của cái mà các nhà triết học hình dung như là “chất” và “tính chất của con người” (Hệ tư tưởng Đức), do đó chứng thực rằng “sự phát triển tự do của mỗi người (tức là) điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả”. Vì thế, ta phải nhớ lại mối băn khoăn đặc biệt của Marx về cá nhân và con người.Những gì ông viết ra về lịch sử nhân loại không bao giờ chỉ là những ghi nhận về sự phát triển cá nhân, những điều viết ra đó không hề mang tính bên lề và vô thưởng vô phạt trong hệ tư tưởng của ông. Trước Freud hay Lacan, Marx đã hiểu về khái niệm tha hóa như một khái niệm thiết yếu, nhất là đối với những gì liên quan trực tiếp đến lịch sử nhân loại, như L. Sève đã nhấn mạnh khi nhắc lại. Như vậy “sự tha hóa được hiểu rõ như một quá trình xã hội – lịch sử đồng thời cũng chính là lôgích sâu xa nhất trong các lôgích về tiểu sử cá nhân, mọi hình thức xã hội cũng kéo theo các hình thức về cá nhân của nó: vì thế cặp phạm trù này cho phép ta (…) cùng suy nghĩ về sự đối kháng xã hội và những bất hạnh cá nhân, kết hợp một cách thực tiễn các động cơ với sự thay đổi thế giới và sự nắm lại chính mình, và do đó cho phép ta đem lại cho chính trị toàn bộ kích thước nhân loại và đạo đức của nó: một sự mở rộng có tính quyết định. Rút cục, vì bao gồm tất cả mọi người, văn hóa về sự xóa bỏ tha hóa ở mức cao nhất cũng liên quan đến tất cả mọi người.

 Nhưng nói đúng ra, sự giải phóng và CNCS đã bị bác lại bởi thực tiễn và những diễn biến của CNXH hiện thực (vả chăng cũng như của phái dân chủ xã hội và cánh tả), một kiểu CNXH đã đi đến chỗ chỉ chú trọng đến những phương tiện duy nhất (thực hiện hai mục tiêu trên) bằng cách đặt chúng cao hơn những mục đích cuối cùng phải theo đuổi và đẩy những mục đích này, tức là sự giải phóng, nhất là giải phóng hoàn toàn, và CNCS đến một tương lai xa vời, không xác định và cũng không thể xác định. Chúng không còn thuộc về “vận động thực tiễn của lịch sử” nữa mà thuộc về vô cùng và không tưởng.

Những cơ thể phế bỏ khác cũng gây ra những hậu quả tương tự ở Tây Âu: nhất là ở nước Pháp Serge Wolikow đã chỉ ra rằng bản sắc CSCN gắn liền với bản thân tổ chức hơn là với những dự án của nó… Điều đó cắt nghĩa thực trạng nghịch lý của sự giải phóng con người.

Tuy nhiên ta cũng có thể nghĩ rằng sự thiếu hụt về mặt lý thuyết được nêu ra đó đã có nguồn gốc ngay từ Marx. Ta biết rằng ông đã tập trung vào việc phân tích về CNTB và về lịch sử, trong khi ít phát triển những quan điểm về CNCS và như vậy, về sự giải phóng con người. Từ những năm 1880, ta có thể đánh giá rằng sự giải phóng đã trở thành một tham chiếu trong hệ tư tưởng Marxit, nhưng nó không có được vị thế khái niệm, và đặc biệt là khái niệm hành động. Thế nhưng ngày nay khi mà tình thế đòi hỏi, cần phải đưa suy nghĩ này vào trong một quan điểm Marxit. Cần phải tiếp tục lật đổ khái niệm duy tâm theo kiểu Kant và đem lại cho nó tính biện chứng.

Để cho nhanh hơn, ta phải nói rằng một công trình nghiên cứu lịch sử về sự giải phóng, lần này với tư cách là một quá trình thực tiễn chứ không phải là một khái niệm, đã làm bộc lộ tính chất mâu thuẫn mang tính cơ bản của nó: lịch sử xác nhận rằng giải phóng là gắn liền với mâu thuẫn. Chính đó là một mâu thuẫn gây ra quá trình, như mâu thuẫn chủ đạo trong các cuộc cách mạng đương đại. Chừng nào chế độ này còn tồn tại, chừng nào mâu thuẫn vẫn có, thì vận động vẫn tiếp tục: sự giải phóng con người sống bằng chính mâu thuẫn chứa đựng nó. Như vậy, cuộc cách mạng Nga năm 1917 đã tạo lập tính chất đa diện và mâu thuẫn của quá trình giải phóng mànó muốn thực hiện… Nó đã làm đảo lộn nước Nga trong mọi lĩnh vực về mặt chính trị, nó giải thoát các dân tộc khác nhau khỏi một nền chuyên chế có từ thời xa xưa và mang tính trấn áp, sự giải phóng được thể hiện ở đây bằng “sự đột nhập của quần chúng trên vũ đài chính trị”, tức là một sự mở rộng mang tính dân chủ hóa của hành động và quyết định chính trị sang một bộ phận xã hội lớn hơn nhiều; về mặt xã hội, nó loại bỏ tình trạng tha hóa khỏi xã hội này của đặc quyền đặc lợi và CNTB đang nổi lên, đặt lại ít nhất là vấn đề về quyền sở hữu và tổ chức sản xuất, và bao hàm việc cơ cấu lại các mối quan hệ xã hội; về mặt văn hóa, nó mang tính cách mạng và giải phóng do các quá trình phi giáo hội, giáo dục và dân chủ hóa nền văn hóa mà nó ngày càng cho phép gia tăng nhiều hơn, ngược lại với uy thế của Nhà thờ Chính giáo dưới sự thống trị của chế độ Nga hoàng, nó mang tính giải phóng và phổ biến do tác động của những sắc lệnh tháng Mười hướng đến hòa bình và quyền tự quyết của các dân tộc. Nhưng vì là đa diện, sự giải phóng cũng tự mình có thể gây ra những mâu thuẫn mới, đi đến chỗ đối kháng và phá hủy chính mình. Cả ở Nga, Liên Xô, cả trong phong trào công nhân thế giới và Quốc tế thứ Ba, cả sắc lệnh tháng Mười đã không có được sự phát triển mang tính giải phóng mà chúng chứa đựng. Chắc chắn là những hoàn cảnh nguy kịch của sự xây dựng CNXH đã ảnh hưởng nặng nề: nó bắt đầu trong một đất nước lạc hậu, nghèo khổ và kiệt quệ vì Chiến tranh Thế giới thứ I, nó diễn ra trong bối cảnh chiến tranh, rồi nội chiến và can thiệp từ bên ngoài, trong thù địch quốc tế rất mạnh mẽ và cụ thể sau đó, và không có sự tiếp sức của một cuộc cách mạng toàn cầu mà những người Bolsevich vẫn quan niệm là đặc biệt cần thiết trước năm 1917. Một cách chính xác, giải phóng là một quá trình lịch sử hiện thực, và không phải lý thuyết, tuân theo những kích thước mâu thuẫn của lịch sử, mà nó có thể đổi mới hay tái tạo. Từ đầu năm 1918, do “tính bất động dai dẳng giống như xác chết của giai cấp vô sản Đức” (Rosa Luxemburg) và do không hề có sự phổ biến của hiện tượng cách mạng sang các nước châu Âu khác, dưới đòn đe dọa quân sự từ nước Đức, những người Bolsevich đã bị buộc phải đàm phán một nền hòa bình tai hại và lần đầu tiên phải hy sinh sự nghiệp cách mạng châu Âu cho sự cần thiết cứu lấy chế độ. Không biết bao nhiêu lần Quốc tế III đã giải quyết theo cách tương tự cũng cái phương trình đó mà lịch sử thường xuyên đặt ra, cách mạng thế giới nhanh chóng được hiểu là sự bảo vệ “Tổ quốc của những người Lao động”… Trong tiến trình đó, sự tiếp tục chiến tranh và nội chiến, sự thù địch hiếu chiến của thế giới TBCN đã sớm đẩy nhanh sự suy thoái của nền dân chủ và hạn chế sự giải phóng mà ít nhất nền văn hóa chính trị có kỷ luật của những người cách mạng Nga cũng đã cho phép: chế độ Xôviết không được tổ chức bởi sự tự do tham gia chính trị, sự kiểm soát của công nhân và chia sẻ của nông dân, mà bởi sự quan liêu hóa ngày càng tăng và tình trạng tập trung hóa chuyên chế và tàn nhẫn. Vậy là đã thiết lập nên một CNCS thời chiến tạo ra một bức biếm họa về CNCS đơn thuần hơn là tạo ra CNXH hiện thực phải kế tục nó. Thế nhưng quần chúng nhân dân Nga không hề chống lại chế độ Bolsevich, thậm chí phần lớn ủng hộ nó, và điều đó đảm bảo cho nó thắng lợi: cách mạng năm 1917 dù sao cũng mang tính giải phóng và tạo ra những hy vọng vào sự tiếp tục của hiện tượng này sau khi vượt qau những khó khăn được coi là tạm thời. Nhưng quá trình này vẫn đầy mâu thuẫn: CNXH như vậy đã giải phóng giai cấp vô sản công nghiệp khỏi giới chủ Nga theo CNTB hoang dã, nhưng nó hoàn toàn không biết gì về nhiều điểm trong giải phóng lao động mà Marx từng có tham vọng, về những điều kiện cũng như sự phân công của nó; tệ hơn nữa là ngoài sở hữu tập thể (hay được coi như vậy vì thuộc về Nhà nước), nó không từ bỏ sơ đồ công nghiệp TBCN, vả chăng nó còn mơ ước đuổi kịp bằng cách theo đúng như sơ đồ đó trên thực tế…

Là một quá trình hiện thực và không đơn giản chỉ là một phạm trù tư tưởng, ngoài ra tự mình cũng tuân theo quy luật tiến hóa, sự giải phóng có phần liên quan đến mâu thuẫn và phép biện chứng. Nó là một hiện tượng lịch sử và không phải là một cái gì bất biến mang tính lý tưởng, đó là một điều có thể quan niệm được một cách dễ dàng: như vậy là những khát vọng vươn tới tự do, phẩm giá, những điều kiện sống được ưa thích đòi hỏi, và cả những quan niệm về sự phát triển của con người, tóm lại tất cả những gì có thể nuôi dưỡng cái nhìn về sự giải phóng, là không giống nhau ở những người sống trước Chiến tranh Thế giới Thứ nhất và thời đại hiện nay; sự giải phóng cũng vậy. Hơn nữa, ta phải khẳng định lại rằng đã diễn ra nhiều quá trình giải phóng khách quan: khỏi tình trạng tử vong do việc kéo dài tuổi thọ (kể cả ở những nước kém phát triển), khỏi tầm quan trọng của thời tiết và ít nhiều khỏi “sự nặng nhọc” của công việc, khỏi những thành kiến (trò phù thủy…)… Thậm chí ngày nay, cách đánh giá về giải phóng cũng thay đổi tùy từng nơi: vì mặc dù quá trình toàn cầu hóa hiện nay do CNTB chi phối chắc chắn có một tính đồng nhất hóa nhưng cũng đặt trong quan hệ và trong sự tác động qua lại những tình thế rất không đồng nhất và khác biệt, đồng thời có lẽ cũng tạo ra chừng ấy tính đa dạng. Ta không được quên rằng CNTB chủ yếu là một phương thức phát triển không mang tính bình quân.

Cuối cùng thì sự giải phóng, cần thiết để hiểu được lịch sử, củng cố nhận định về tính hợp lý của lịch sử nhân loại và sự tồn tại của một chiều hướng lịch sử: lịch sử sự giải phóng trước hết nằm trong hiện tượng của quá trình tích lũy. Số phận của chính bản thân từ này có thể dùng để minh họa điều đó.

Ta đã thấy rằng trong nguồn gốc cổ đại của mình, từ emancipare chỉ sự giải phóng về mặt pháp lý của trẻ em. Hai thiên niên kỷ sau, một trong những cách dùng mới được khám phá vào cuối thế kỷ XX cho thuật ngữ này cũng liên quan đến chính trẻ em, sau khi đã liên quan đến nông nô, đàn ông, phụ nữ, người lao động… Thế nhưng đây không chỉ là một sự quay về đơn thuần với thời kỳ La Mã: thông qua hiện tượng này chính là toàn bộ sự làm giàu về khái niệm cũng như những quá trình hiện thực nuôi dưỡng nó. Giải phóng trẻ em ngày nay, đó là sự coi trọng nhiều hơn đối với toàn bộ trẻ em cũng như từng cá nhân trẻ em riêng lẻ, tiếp tục con đường của thuyết phổ biến thế kỷ Ánh sáng, đó là việc nhận thức những đặc thù của trẻ em tiếp theo việc khuyến khích cá nhân và cuộc sống riêng từ thời Phục hưng, đó là việc tiếp tục những đấu tranh hiện thời về quyền con người và cuộc chiến đấu đã nhiều lần thắng lợi chống lại mọi hình thức xấu xa nhất của sự bóc lột… Đó là một quá trình thật sự, có nhịp điệu thay đổi tùy từng thời kỳ, có những thành công không giống nhau và có thể cả những suy thoái hay thu hẹp với quy mô tương tự, nhưng xét trong khoảng thời gian dài thì đã tạo ra một tích lũy đáng kể.

Như vậy, là một khái niệm lịch sử, sự giải phóng con người phải luôn luôn được thời sự hóa, về mặt lý thuyết cũng như về mặt thực tiễn. Chẳng hạn ngày nay đang đặt vấn đề về sự liên kết được thực hiện trong thế kỷ XIX giữa cách mạng và giải phóng trong khi lại mở ra một cánh cửa lịch sử mới về sự vượt quá CNTB trong đó cách mạng đã mang một ý nghĩa khác, bên cạnh sự bá chủ của Gramsci. Thế mà toàn bộ những hiện tượng này lại không phải là không đáng quan tâm: chú trọng đến sự giải phóng trong một quan điểm chính trị và tư tưởng là việc làm có ích, vì về những mặt đó, nó có được một nguồn cảm thông và động viên đáng kể, và thực ra là lôgích vì dựa trên những tha hóa có thật. Và cũng là điều chính đáng khi giành lại sự giải phóng cho phái tiến bộ bởi vì, rút cục lại, đó chính là sự thừa kế của chúng ta, là lý do tồn tại của chúng ta: giành lại, đó chính là đưa vào lại chứ không phải là chiếm đoạt. Bằng cách nào? Bằng cách lại đặt sự giải phóng con người vào trong vận động thực tế thay vì loại bỏ nó với CNCS, bằng cách biến sự giải phóng thành một tiêu chuẩn đánh giá và tiêu chuẩn xác định hành động của chúng ta, và như vậy là liên kết phương tiện với mục đích cuối cùng.

Sự giải phóng là một yếu tố của CNCS hay của xã hội đang được xây dựng, nếu ta muốn đem cho nó một cái tên khác. Theo ý tôi, trên quan điểm lý thuyết, và để thoát khỏi điều sỉ nhục của thế kỷ XX, sự giải phóng phải làm thành một tiêu chuẩn đánh giá và tiêu chuẩn cho hướng đi chính. Chẳng hạn, nó phải là tiêu chuẩn và ý nghĩa của cuộc đấu tranh để chống lại toàn cầu hóa TBCN. Nhưng điều đó đòi hỏi phải trang bị cho nó một nội dng và một kết cấu lý thuyết. Cũng chính vì thế mà giờ đây ta lại phải bắt đầu bằng sự kết thúc.

Người dịch: NGUYỄN ĐỨC THƯƠNG

Hiệu đính: NGUYỄN CHÍ TÌNH


Nguồn: Laurent Lemarchand – Emancipation humaine et communisme au terme de XXe siècle: “commencer par les fins” – “La pensée”, No 323, Octobre – Décembre, 2000, pp 105 – 113.

TĐB 2001 – 16 & 17. Phiên bản điện tử: https://caphesach.wordpress.com/


 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: phucdh@triethoc.edu.vn hoặc phuongcn@triethoc.edu.vn
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt