Triết học tôn giáo

Tôn giáo tự nhiên

TÔN GIÁO TỰ NHIÊN

 

GEORG WILHELM FRIEDRICH HEGEL (1770-1831)

 


Georg Wilhelm Friedrich Hegel, “Tôn giáo tự nhiên” trong Hiện tượng học tinh thần. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 1339-1358. | Phiên bản điện tử đăng trên website này đã có sự đồng ý của dịch giả.


 

§ 684

Mục lục

1. Tôn giáo nghệ thuật

2. Tác phẩm nghệ thuật trừu tượng

3. Tác phẩm nghệ thuật sinh động

4. Tác phẩm nghệ thuật tinh thần

     4.1. Anh hùng ca

     4.2. Ngôn ngữ của bi kịch

     4.3. Ngôn ngữ của hài kịch

 

Tinh thần biết về Tinh thần tức là: ý thức về chính mình; và xuất hiện cho chính mình trong hình thức của cái gì mang tính đối tượng [khách quan]. | [Theo nghĩa ấy] Tinh thần tồn tại; và đồng thời là cái tồn tại-cho-mình (Fürsichsein). Tinh thần tồn tại cho-mình: đó là phương diện của Tự-ý thức; và như vậy, là đối lập lại với phương diện của ý thức của nó, tức với phương diện qua đó Tinh thần đặt mối quan hệ (Beziehen) chính mình với chính mình như là với đối tượng. Trong ý thức của Tinh thần, có sự đối lập và do đó, có tính quy định nhất định (Bestimmheit) của hình thái, trong đó Tinh thần xuất hiện ra cho chính mình và biết chính mình. Trong việc nghiên cứu hiện nay về tôn giáo, ta chỉ tập trung vào tính quy định nhất định này của hình thái mà thôi, bởi ta đã xem xét cái bản chất không mang tính hình thái, tức Khái niệm thuần túy của Tinh thần. Nhưng, sự phân biệt giữa ý thức và Tự-ý thức đồng thời cũng rơi vào bên trong cái sau [Tự-ý thức] này. | Hình thái của tôn giáo không chứa đựng sự hiện hữu (Dasein) của Tinh thần theo nghĩa là giới tự nhiên thoát ly khỏi tư tưởng, cũng không theo nghĩa là tư tưởng thoát ly khỏi sự hiện hữu. | Trái lại, hình thái mà tôn giáo mang lấy là sự hiện hữu được bảo tồn ở trong tư tưởng, như là một cái gì “được suy tưởng” nhưng lại hiện hữu một cách khách quan và có ý thức (ein Gedachtes, das sich da ist)[1].

     Chính dựa theo đặc điểm quy định nhất định (Bestimmheit) của hình thái trong đó Tinh thần nhận biết chính mình mà một tôn giáo này được phân biệt với một tôn giáo khác. | Chỉ có điều phải đồng thời lưu ý rằng trong thực tế, việc trình bày cái biết về chính mình này của Tinh thần – căn cứ vào tính quy định nhất định, cá biệt nói trên – không tát cạn được hết cái Toàn bộ của một tôn giáo hiện thực. Cũng thế, chuỗi các tôn giáo khác nhau như ta sẽ thấy sau đây chỉ diễn tả những phương diện khác nhau của một tôn giáo duy nhất hay nói đúng hơn, của mọi tôn giáo cá biệt; và những biểu tượng [những hình dung bằng hình ảnh] [khác nhau] dường như làm căn cứ để phân biệt một tôn giáo hiện thực này với một tôn giáo khác, đều xuất hiện trong từng tôn giáo. Nhưng đồng thời, sự đa dạng cũng phải được xem xét như một sự đa dạng của tôn giáo[2]. Bởi lẽ Tinh thần đang ở trong sự phân biệt giữa ý thức và Tự-ý thức của nó, nên tiến trình vận động của Tinh thần có mục đích là vượt bỏ (aufheben) sự phân biệt nền tảng này và mang lại hình thức của Tự-ý thức cho từng hình thái nhất định vốn là đối tượng của ý thức [của Tinh thần]. Tuy nhiên, sự phân biệt này không phải là đã được vượt bỏ một cách đơn giản chỉ bằng sự kiện rằng: những hình thái mà ý thức này chứa đựng cũng có trong lòng mình yếu tố của Tự ngã và rằng: Thượng đế đã được hình dung bằng biểu tượng (vorgestellt) như là Tự-ý thức. Tự ngã được hình dung [bằng hình tượng như thế] không phải là Tự ngã hiện thực. | Để cho Tự ngã, cũng như bất kỳ sự quy định chính xác hơn nào khác của hình thái có thể thuộc về hình thái này trong tính chân lý, thì Tự ngã ấy, một phần, phải được thiết định vào trong hình thái bằng việc làm của chính Tự-ý thức; và phần khác, sự quy định thấp hơn của hình thái phải cho thấy chính nó đã được thủ tiêu, vượt bỏ và thấu hiểu bằng Khái niệm (begriffen) bởi sự quy định cao hơn. Bởi vì, cái gì được hình dung bằng biểu tượng (vorgestellt) chỉ ngưng không còn là cái gì “được hình dung” [đơn thuần] và không còn xa lạ với cái biết của Tinh thần là khi chính Tự ngã đã sản sinh ra nó và do đó, trực quan (anschaut) sự quy định của đối tượng như là sự quy định của chính mình và như thế là trực quan chính mình ở trong đối tượng ấy. Chính nhờ tiến trình hoạt động này, sự quy định thấp hơn đã lập tức bị tiêu biến đi, bởi việc làm là cái phủ định tiến hành trên sự tiêu vong của một cái khác. | Còn trong chừng mực sự quy định thấp hơn vẫn cứ tiếp tục hiện diện, nó quay trở lại tình trạng không có tính bản chất; cũng như, mặt khác, ở đâu sự quy định thấp hơn vẫn còn giữ vị trí chủ đạo trong khi sự quy định cao hơn cũng đã có mặt thì sự quy định này cộng tồn với sự quy định kia theo kiểu không có Tự ngã. Do đó, nếu những [hình thức] biểu tượng khác nhau bên trong một tôn giáo riêng lẻ tuy diễn tả toàn bộ tiến trình vận động của những hình thức của tôn giáo thì tính cách riêng biệt (Charakter) của mỗi một tôn giáo là được quy định bởi sự thống nhất đặc thù giữa ý thức và Tự-ý thức [trong tôn giáo ấy], nghĩa là, bởi sự kiện: Tự-ý thức [của Tinh thần] tiếp thu vào trong chính mình sự quy định vốn thuộc về đối tượng của ý thức, và, bằng việc làm ấy, biến sự quy định này hoàn toàn thành sự quy định của chính mình và nhận biết sự quy định ấy là quy định bản chất so với những sự quy định khác. Chân lý đúng thật của lòng tin nơi một sự quy định nhất định của Tinh thần-tôn giáo tự chứng tỏ trong sự kiện sau đây: Tinh thần hiện thực được cấu tạo theo cùng một đặc tính giống như là hình thái, trong đó Tinh thần trực quan chính mình trong tôn giáo. | Cho nên, chẳng hạn sự nhập thể thành người (Menschwerdung) của Thượng đế – như trong tôn giáo [nguyên thủy] của phương đông – không có chân lý đúng thật, vì Tinh thần hiện thực của tôn giáo ấy không có sự hòa giải này [giữa Ý thức và Tự-ý thức][3].

     Đây chưa phải là chỗ để đi từ tính toàn thể của những sự quy định đặc thù quay lùi lại đến những sự quy định cá biệt và để cho thấy rằng bên trong sự quy định này và trong tôn giáo đặc thù của nó, hình thái nào bao hàm trọn vẹn tất cả mọi hình thái khác[4]. Hình thức cao hơn, khi bị đặt lùi lại dưới một hình thức thấp hơn, sẽ mất hết ý nghĩa đối với Tinh thần tự ý thức về mình [Tinh thần tự giác] và chỉ đơn thuần thuộc về Tinh thần một cách hời hợt bên ngoài và ở cấp độ của sự hình dung bằng biểu tượng. Hình thức cao hơn phải được xem xét trong ý nghĩa riêng biệt của nó và ở nơi mà nó là nguyên tắc (Prinzip) của tôn giáo đặc thù ấy, cũng như được Tinh thần hiện thực của tôn giáo ấy thử thách và xác nhận.

 

a

BẢN CHẤT [THƯỢNG ĐẾ NHƯ LÀ] ÁNH SÁNG[5]

§ 685

Thoạt đầu, Tinh thần, với tư cách là cái Bản chất [Hữu thể-tuyệt đối], là Tự-ý thức; – hay nói cách khác, Bản chất tự-giác là tất cả chân lý và nhận biết tất cả hiện thực như là chính mình – chỉ đơn thuần là Khái niệm [nguyên tắc] về Tinh thần, đối lập lại với thực tại (Realität) mà Tinh thần mang lại cho chính mình trong tiến trình vận động của ý thức của nó. | Và Khái niệm này, như cái gì đối lập lại với ánh sáng ban ngày sáng tỏ của sự phát triển minh nhiên, là đêm tối của cái bản chất [đời sống nội tại]; và, đối lập lại với sự hiện hữu [bên ngoài] (Dasein) của những yếu tố khác nhau của nó như là những hình thái độc lập, Khái niệm ấy là bí nhiệm sáng tạo của sự đản sinh ra nó[6]. Bí nhiệm này có sự khai mở bên trong chính nó; bởi sự hiện hữu [của những yếu tố của nó] có chỗ đứng tất yếu trong Khái niệm này, vì Khái niệm này là Tinh thần tự nhận biết chính mình, và vì thế, có trong bản chất của nó mô-men (Moment) phải tồn tại như là ý thức và [có nghĩa là] phải hình dung chính mình một cách khách quan [như đối tượng]. Đó là cái Ngã thuần túy (das reine Ich), và trong sự xuất nhượng (Entäusserung: ngoại tại hóa) của nó có bên trong nó sự xác tín về [Tự ngã của] mình như là đối tượng phổ biến; nói cách khác, đối với cái Ngã, đối tượng phổ biến này là sự thâm nhập lẫn nhau của mọi tư tưởng và mọi hiện thực[7].

§ 686

Khi sự phân đôi [hay phân liệt] (Entzweiung) đã xảy ra lần đầu tiên và trực tiếp bên trong Tinh thần-tuyệt đối tự nhận biết chính mình, hình thái của nó mang sự quy định vốn thuộc về ý thức trực tiếp hay thuộc về sự xác tín cảm tính. Tinh thần trực quan chính mình trong hình thức của sự tồn tại (Sein), nhưng không phải “sự tồn tại” trong ý nghĩa của cái gì không có Tinh thần, chỉ chứa đựng toàn là những quy định bất tất của cảm giác, tức loại tồn tại thuộc về sự xác tín cảm tính. [Xem lại: Chương I]. | Trái lại, sự tồn tại của Tinh thần [ở đây] được lấp đầy bằng Tinh thần. Nó cũng bao hàm bên trong nó hình thức đã xuất hiện trong trường hợp của Tự-ý thức trực tiếp, tức hình thức của ÔNG CHỦ [xem lại: §190] đối lập với Tự-ý thức của Tinh thần đang rút lui khỏi đối tượng của mình[8].

Vậy, sự tồn tại này – với nội dung được lấp đầy bằng Khái niệm về Tinh thần – là hình thái của mối quan hệ đơn giản của Tinh thần với chính mình, hay nói cách khác, là hình thái của tính vô-hình thái [hình thái không mang hình thái nào cả]. Do đặc điểm ấy, hình thái này là Ánh sáng của Mặt trời mọc, thuần túy, chứa đựng tất cả, ngập tràn tất cả, tự bảo tồn chính mình trong tính bản thể không có hình thể (formlos) của mình. Cái tồn tại-khác [cái đối cực] của nó là cái phủ định cũng đơn giản như thế: Bóng Tối. | Các tiến trình vận động của sự xuất nhượng ra bên ngoài (Entäusserung) [ngoại tại hóa] của nó, những kết quả sáng tạo của nó trong môi trường (Element) thụ động, không đề kháng của cái tồn tại-khác nói trên của nó chính là những chùm ánh sáng. | Trong tính đơn giản của mình, những chùm ánh sáng đồng thời là phương cách của sự tồn tại này [Ánh Sáng] để trở thành cái gì “cho-mình” (sein Fürsichwerden) và là sự quay trở lại của nó từ sự hiện hữu khách quan, là những dòng suối lửa thiêu hủy [mọi] hình thái hiện thân [có thể nhìn thấy được] của nó. Tuy rằng sự phân biệt mà nó mang lại cho chính mình phát triển thịnh mậu ở trong bản thể của sự hiện hữu và hiện thân thành những hình thức đa tạp của Tự nhiên, nhưng tính đơn giản thuộc bản chất của tư tưởng của nó lang thang không có định hướng, không có sự tự tồn, không tự giác (unverständig) ở trong những hình thức ấy, mở rộng những ranh giới của nó đến chỗ vô độ và vẻ đẹp của nó – đã được tăng lên đến độ lộng lẫy – tan rã hết trong tính cao cả của chính nó.

§ 687

Do đó, nội dung mà [giai đoạn] tồn tại thuần túy này đã phát triển, tức sự hoạt động [ở cấp độ] tri giác của nó là một màn phụ diễn (Beiherspielen) không có bản chất nơi cái bản thể này; một bản thể chỉ đơn thuần “mọc lên” [thành Ánh sáng của mặt trời mọc] chứ không “lặn xuống” vào trong bề sâu của chính mình để trở thành Chủ thể và để củng cố những sự dị biệt của mình thông qua Tự ngã[9]. Những sự quy định của bản thể ấy chỉ đơn thuần là những tùy thể (Attribute) không phát triển được thành tính độc lập tự chủ; trái lại, chỉ mãi mãi là những tên gọi của cái Một được mang nhiều tên gọi khác nhau. Cái Một này được khoác lấy tấm áo của những quyền năng đa tạp của sự hiện hữu và của những hình thái của hiện thực như một vật trang sức vô hồn, không có Tự ngã: chúng chỉ là những sứ giả vô quyền, không có ý chí riêng, chỉ đại diện cho quyền năng của cái Một; là những sự trực quan trước sự vinh quang của cái Một, là những tiếng nói trong sự ca tụng cái Một[10].

§ 688

Tuy nhiên, cuộc sống chệnh choạng[11] [trên cõi Trời] này phải tự quy định thành sự tồn tại-cho-mình và phải mang lại sự tự tồn lâu bền cho những hình thái nhất thời và bị tiêu biến đi của nó. Bản thân sự tồn tại trực tiếp [thuần túy], trong đó cuộc sống này tự đối lập với ý thức của mình, là sức mạnh phủ định, giải thể những sự phân biệt của nó. Như thế, trong tính chân lý đúng thật, tồn tại này là Tự ngã; và vì thế, Tinh thần chuyển hóa sang việc nhận biết chính mình trong hình thức của Tự ngã. Ánh sáng thuần túy ném tung tính đơn giản của nó ra thành một tính vô tận của những hình thức tách biệt và hy sinh bản thân cho cái tồn tại-cho-mình, làm cho cái cá biệt có thể có được sự tự tồn (das Bestehen) từ cái bản thể này của chính mình.

 

b

CÂY CỐI VÀ THÚ VẬT [NHƯ LÀ NHỮNG HÌNH THÁI CỦA TÔN GIÁO][12]

§ 689

Tinh thần tự-giác – đã chuyển hóa từ bản chất không có hình thái [“Ánh sáng”, “Lửa”] để đi vào bên trong chính mình; hay nói cách khác, đã nâng tính trực tiếp của mình lên đến cấp độ của Tự ngã nói chung – quy định tính [nhất thể] đơn giản của mình như là một sự đa tạp của [những] cái “tồn tại-cho-mình”, và đó là tôn giáo của sự Tri giác mang tính tinh thần (geistige Wahrnehnung). | Ở đây, Tinh thần phân hóa thành một đa thể gồm vô số “những Tinh thần” (Geister) [“những vị thần”] khác nhau ở chỗ mạnh hơn và yếu hơn, phong phú hơn và nghèo nàn hơn. [Xem lại: Chương II: Tri giác về “sự vật với nhiều thuộc tính khác nhau”. N.D]. Thuyết phiếm thần này (Pantheismus) thoạt đầu là sự tự tồn im lìm, thụ động của những “nguyên tử” mang tính tinh thần [những “vị thần” độc lập, cùng tồn tại bên nhau] phát triển thành một tiến trình thù địch trong nội bộ. Sự hồn nhiên vô tội vốn là đặc tính của tôn giáo [thực vật] thờ hoa [và cây cối] và đơn thuần là biểu tượng không có tính tự ngã về cái Tự ngã nhường chỗ cho sự nghiêm trọng của cuộc sống đấu tranh, cho tội lỗi của tôn giáo thờ động vật; nghĩa là, sự bình lặng và bất lực của tính cá nhân trực quan chuyển hóa thành sự tồn tại-cho-mình [độc lập, tách rời] mang tính hủy diệt [lẫn nhau][13].

     Rút bỏ sự trừu tượng chết cứng ra khỏi những sự vật của tri giác và nâng chúng lên cấp độ của những bản chất của tri giác tinh thần đã là những việc làm không mang lại hiệu quả: vương quốc của “những Tinh thần” này – khi đã được làm cho sống động lên – chứa đựng sự chết này ngay trong lòng nó bởi đã mang tính quy định nhất định và tính phủ định, những đặc tính đã thắng vượt sự dửng dưng hồn nhiên vô tội [giữa những loại thực vật] đối với nhau trước đây. Do tính quy định và tính phủ định này, sự phân hóa của Tinh thần thành đa thể của những hình thái thực vật thụ động trước đây trở thành một tiến trình thù nghịch, trong đó sự thù ghét – được kích động bởi sự tồn tại cho-mình độc lập của chúng – bột phát và phá hủy những hình thái ấy.

     Tự-ý thức hiện thực của [loại] Tinh thần bị phân tán và phân hóa này mang hình thức của một số lượng lớn những vị thần của các cộng đồng người (Vưlkergeister) được cá thể hóa và có ác cảm với nhau, hận thù và đấu tranh với nhau cho tới chết và, một cách tự nguyện và có ý thức, mang lấy những hình thái đặc thù của những con vật nhất định, xem chúng là bản chất của mình: bởi những vị thần ấy không gì khác hơn là những vị thần thú vật, là đời sống súc sinh tách biệt với nhau và không hề có trong đó tính phổ biến được ý thức[14].

§ 690

Tuy nhiên, đặc điểm quy định nhất định của sự tồn tại cho-mình thuần túy và phủ định này tự tiêu hủy đi trong sự thù ghét lẫn nhau; và qua tiến trình ấy của Khái niệm, Tinh thần bước vào một hình thái khác. Sự tồn tại-cho-mình bị thủ tiêu và vượt bỏ chính là hình thức của đối tượng; một hình thức được tạo ra bởi Tự ngã, hay nói đúng hơn, là cái Tự ngã được tạo ra, là cái Tự ngã tự-tiêu thụ chính mình, tức là, tự biến mình thành “sự vật” (Ding). Vì thế, [bây giờ] tác nhân lao động giữ vị trí ưu thế hơn hẳn những vị thần thú vật chỉ đơn thuần cắn xé lẫn nhau. | Hành động của tác nhân lao động không đơn thuần phủ định, trái lại, là trầm tĩnh và khẳng định. Cho nên, từ nay, ý thức của Tinh thần là tiến trình đứng lên trên và bên ngoài sự tồn tại-tự-mình trực tiếp [sự tồn tại phổ biến], cũng như vượt lên trên và ở bên ngoài sự tồn tại-cho-mình trừu tượng [sự tồn tại cô lập, tách rời][15]. Vì lẽ sự tồn tại-tự-mình [mặc nhiên] – thông qua sự đối lập –, bị hạ thấp xuống cấp độ của một tính quy định nhất định (Bestimmheit), nó không còn là hình thức riêng có của Tinh thần tuyệt đối nữa, mà là một hiện thực được ý thức tìm thấy như là một hiện hữu bình thường đang đứng đối lập lại với chính mình và sẽ bị mình thủ tiêu đi; đồng thời, ý thức này không chỉ là sự tồn tại cho-mình làm công việc phủ định, thủ tiêu đơn thuần đối tượng của mình, trái lại, tác tạo ra biểu tượng khách quan về chính mình, tức, sự tồn tại-cho-mình này được thiết định ra bên ngoài (herausgesetzt) [ngoại tại hóa] trong hình thức của một đối tượng. Song, tiến trình tác tạo (Hervorbringen) này chưa phải là sự tác tạo trọn vẹn mà là một hoạt động có điều kiện, tức là sự nhào nặn, tạo nên hình thể (das Formieren) cho một chất liệu đã có sẵn.

    

c

[TINH THẦN NHƯ LÀ] NGƯỜI THỢ TÁC TẠO[16]

§ 691

Như thế, ở đây, Tinh thần xuất hiện ra như là Người-thợ-tác-tạo (der Werkmeister); và việc làm của Người-thợ-tác-tạo này – khi tạo ra chính mình như đối tượng nhưng chưa nắm bắt được tư tưởng về chính mình – là một loại lao động bản năng, giống như những con ong xây tổ.

§ 692

Hình thức đầu tiên, vì lẽ là hình thức trực tiếp, nên có tính trừu tượng của “giác tính” (Verstand), và công trình được tạo ra chưa được lấp đầy nơi chính nó bằng Tinh thần. Những khối tinh thể của các kim tự tháp và các cột hình tháp (Obelisken) [ở Ai Cập cổ đại. N.D], những sự nối kết đơn giản của các đường thẳng với các mặt phẳng và các tỉ lệ bằng nhau giữa những bộ phận, nơi đó tính vô ước (Inkommensura-bilität) của hình tròn bị triệt tiêu, là những công trình được tạo ra bởi Người-thợ-tác-tạo này, tức bởi Người thợ của hình thức nghiêm ngặt. Nhắm vào tính dễ hiểu thuần túy trừu tượng của hình thức, hình thức này không phải là ý nghĩa đích thực nơi chính bản thân nó; nó không phải là Tự ngã-tinh thần. Như thế, những công trình ấy hoặc chỉ đón nhận Tinh thần vào trong chúng như đón nhận một Tinh thần xa lạ, đã quá vãng – một Tinh thần đã rời bỏ sự thâm nhập sống động với hiện thực và bản thân là đã chết – đi vào trong những công trình không có sự sống này; hoặc chỉ có một mối quan hệ ngoại tại với Tinh thần như với một cái gì bản thân cũng là ngoại tại và không hiện hữu như là Tinh thần: chúng quan hệ với Tinh thần giống như với Ánh sáng đang lên ở phương đông [xem mục a: “Thượng đế như là thần ánh sáng”]; Ánh sáng ấy tỏa chiếu ý nghĩa của mình vào cho chúng[17].

§ 693

Việc tách rời các yếu tố – điểm xuất phát của Tinh thần với tư cách là Người-Thợ-tác-tạo –, tức việc tách rời cái tồn tại tự-mình – trở thành chất liệu cho Tinh thần ấy làm việc – và cái tồn tại cho-mình, tức phương diện của Tự-ý thức làm công việc tác tạo, đã trở thành khách quan ở trong công trình của Người Thợ. Nỗ lực tiếp theo của Tinh thần ấy là phải nhắm đến việc thủ tiêu sự tách rời này giữa hồn và xác: nó phải mang lại hình thái hiện thân cho phần hồn và thổi linh hồn vào cho phần xác. Hai phương diện này, bởi được mang lại gần nhau, nên, trong tình hình đó, đem đến đặc điểm đối lập với nhau, đó là: Tinh thần được hình dung [song đôi] vừa như là biểu tượng và vừa như là vỏ bọc bên ngoài. Tính hợp nhất (Einigkeit) của Tinh thần với chính mình chứa đựng sự đối lập này giữa tính cá biệt và tính phổ biến[18]. Vì lẽ công trình đến gần với chính nó qua việc những phương diện của nó tiến đến gần nhau nên đồng thời cũng tạo ra một kết quả khác, đó là: công trình tiến đến gần hơn với Tự-ý thức đang tác tạo nó; và Tự-ý thức đạt đến cái biết đúng thật, tự-mình và cho-mình về chính mình ở trong công trình. Tuy nhiên, bằng cách ấy, công trình thoạt đầu mới chỉ tạo nên phương diện trừu tượng của hoạt động của Tinh thần; Tinh thần này chưa nhận biết nội dung của hoạt động của mình ở bên trong chính mình, mà ở trong công trình của mình, tức trong cái vốn chỉ là một “sự vật”. Bản thân Người-thợ-tác-tạo, tức Tinh thần trong tính toàn bộ của nó, đã chưa xuất hiện ra, trái lại vẫn còn là cái bản chất ẩn kín ở bên trong; bản chất mà, với tư cách là cái toàn bộ, chỉ hiện diện ở đây như cái gì mới được tháo rời ra thành một bên là Tự-ý thức tác tạo và bên kia là đối tượng do nó đã tác tạo ra.

§ 694

Như thế, môi trường cư trú chung quanh, tức hiện thực bên ngoài – vốn mới chỉ được nâng lên hình thức trừu tượng của “giác tính” – sẽ được Người-Thợ-tác-tạo nhào nặn thành một hình thức sinh động [giống với đời sống] hơn. Người-thợ-tác-tạo sử dụng đời sống thực vật [cây cối] cho mục đích này; đời sống ấy không còn có tính thiêng liêng như trong trường hợp trước đây của thuyết phiếm thần bất động và bất lực nữa, trái lại, được Người-thợ-tác-tạo – vốn nắm bắt chính mình như là bản chất tồn tại-cho-mình – nắm lấy như một chất liệu có thể sử dụng được và hạ thấp đời sống thực vật xuống thành một phương diện ngoại tại, xuống cấp độ của một vật trang sức đơn thuần. Nhưng, đời sống thực vật không phải được sử dụng mà không bị biến đổi tính chất, trái lại: Người Thợ – là kẻ tác tạo nên hình thức có tính tự giác – đồng thời tiêu trừ tính nhất thời vốn là đặc tính mặc nhiên, tự-mình của sự tồn tại trực tiếp của đời sống thực vật này và mang những hình thức hữu cơ của thực vật đến gần với những hình thức chặt chẽ hơn và phổ biến hơn của tư tưởng. Hình thức hữu cơ – nếu cứ để tự do sẽ tiếp tục phát triển trong tính đặc thù – một mặt, về phía nó, bị hình thức của tư tưởng đè nén, khống chế; mặt khác, đến lượt mình, sẽ nâng những hình thái chỉ gồm đường thẳng và mặt phẳng lên thành những đường tròn sinh động, tiêu biểu cho hình thức hữu cơ hơn: một sự pha trộn trở thành gốc rễ cho nền kiến trúc tự do[19].

§ 695

Còn môi trường cư trú, tức phương diện của yếu tố phổ biến hay bản tính không-hữu cơ của Tinh thần, từ nay cũng bao hàm bên trong nó hình thức của tính cá biệt, mang Tinh thần – vốn trước đây bị tách rời khỏi sự hiện hữu ở bên ngoài lẫn bên trong – đến gần hơn với hiện thực; và như thế, làm cho công trình ngày càng giống nhiều hơn với Tự-ý thức hành động. Người-thợ-tác-tạo trước hết dựa vào hình thức của sự tồn tại-cho-mình nói chung, tức vào hình thái thú vật. Việc người thợ ấy không còn tiếp tục có ý thức về chính mình một cách trực tiếp trong đời sống thú vật nữa thể hiện ở chỗ chứng minh rằng: đối lập lại với đời sống ấy, người thợ tự kiến tạo mình như là sức mạnh tác tạo và nhận biết chính mình trong đó như là công trình của chính mình, qua đó hình thái thú vật đồng thời là một hình thái đã được vượt bỏ và trở thành dấu hiệu tượng hình của một ý nghĩa khác, dấu hiệu tượng hình của một tư tưởng. Do đó, hình thái ấy không còn đơn thuần và hoàn toàn được sử dụng bởi Người thợ, trái lại, được pha trộn với hình thái của tư tưởng, với hình thái của con người[20]. Thế nhưng, công trình vẫn còn thiếu hình thái và sự hiện hữu (Dasein), trong đó Tự ngã hiện hữu như là Tự ngã: tức nó còn thiếu khả năng diễn đạt trong chính bản tính của nó rằng nó bao hàm bên trong nó một ý nghĩa nội tại; tức nó còn thiếu ngôn ngữ, thiếu môi trường [hay chất liệu] (Element) trong đó bản thân ý nghĩa hiện diện để lấp đầy nội dung cho ngôn ngữ. Vì thế, công trình – dù đã được tẩy sạch hoàn toàn khỏi tính thú vật và chỉ mang hình thái của Tự-ý thức – vẫn còn là hình thái câm lặng, không có thanh âm; hình thái ấy cần có tia chiếu của mặt trời đang lên để có được thanh âm, nhưng thanh âm do Ánh sáng tạo ra cũng chỉ mới là tiếng ngân chứ không phải tiếng nói, chỉ mới chứng tỏ một Tự ngã bên ngoài chứ không phải Tự ngã bên trong[21].

§ 696

Đối lập lại với hình thái bên ngoài này của Tự ngã là một hình thái khác chỉ ra rằng nó có một cái Bên trong chính nó. Giới Tự nhiên, quay trở về lại vào trong bản chất của mình, hạ thấp đời sống đa tạp của nó – sự đa tạp được cá thể hóa và trở thành hỗn loạn trong tiến trình vận động của nó – xuống thành một lớp vỏ ngoài không-bản chất chỉ nhằm che phủ cái bản chất tồn tại bên trong. | Và, thoạt tiên, cái Bên trong này chỉ mới là Bóng tối đơn thuần, đơn giản, là cái Bất động, là Hòn Đá Đen không có hình dáng[22].

§ 697

Cả hai sự diễn tả này chứa đựng tính nội tại lẫn sự hiện hữu bên ngoài (Dasein), tức chứa đựng cả hai yếu tố của Tinh thần; và cả hai loại diễn tả này đồng thời chứa đựng hai yếu tố trong quan hệ đối lập nhau: cái Tự ngã vừa là cái Bên trong, vừa là cái Bên ngoài. Cả hai cái này phải được hợp nhất lại.

Linh hồn của những pho tượng có hình người chưa đi ra khỏi cái Bên trong, chưa phải là ngôn ngữ; còn sự hiện hữu là nội tại trong chính nó; và cái Bên trong của sự hiện hữu đa hình thái thì vẫn còn không có thanh âm, vẫn chưa được phân biệt hóa bên trong chính mình, vẫn còn tách rời với cái Bên ngoài của nó, tức là nơi chứa đựng mọi sự dị biệt. Vì thế, Người-thợ-tác-tạo hợp nhất cả hai bằng cách trộn lẫn hình thái tự nhiên và hình thái của Tự-ý thức; và các bản chất hàm hồ và bí hiểm ngay đối với chính bản thân chúng này, tức, cái có ý thức dằng co với cái không có ý thức; cái Bên trong đơn giản dằng co với cái Bên ngoài đa hình thể; sự tối tăm của tư tưởng song hành với sự sáng sủa của cách diễn tả ra bên ngoài: tất cả những điều này bùng vỡ thành Ngôn ngữ của một sự khôn ngoan sâu kín và khó hiểu[23].

§ 698

Với sự ra đời của công trình này, phương cách tác tạo theo kiểu bản năng – vốn đã tạo ra công trình không có ý thức, đối lập lại với Tự-ý thức – đã cáo chung. | Bởi, ở đây, hoạt động của Người-thợ-tác-tạo, – hoạt động kiến tạo nên Tự-ý thức – đi đến chỗ đối diện với một cái Bên trong cũng có tính tự giác và tự diễn đạt. Người-Thợ-tác-tạo, qua công trình của mình, đã nâng mình lên đến chỗ phân ly của ý thức của mình, trong đó Tinh thần gặp gỡ Tinh thần. Trong sự thống nhất này giữa Tinh thần tự giác với chính bản thân nó, trong mức độ Tinh thần có ý thức rằng mình tồn tại như hình thái hiện thân và như là đối tượng của ý thức của chính mình, sự trộn lẫn của Tinh thần với tình trạng vô ý thức của những hình thái trực tiếp của Tự nhiên được lọc bỏ, tẩy sạch. Những con quái vật trong hình thái, tiếng nói và việc làm trên đây đều tự tan rã và trở thành hình thái mang tính tinh thần: một cái Bên ngoài đã đi vào bên trong chính mình; một cái Bên trong tự diễn đạt ra bên ngoài chính mình và ở nơi chính mình; chúng đều chuyển hóa thành Tư Tưởng, tức thành cái hiện hữu tự sản sinh chính mình, bảo tồn hình thái của mình phù hợp với Tư tưởng và là một hiện hữu trong suốt, [sáng tỏ]. Tinh thần [bây giờ] là Nhà Nghệ thuật[24].

 


[1] Tôn giáo là Tự-ý thức của Tinh thần-tuyệt đối, nhưng sự thể hiện của cái Tuyệt đối này trước ý thức tùy thuộc vào hình thái của cái tuyệt đối này xuất hiện ra cho ý thức. Trong “tôn giáo tự nhiên”, cái Tuyệt đối được hình dung bằng sự tồn tại của giới Tự nhiên như ánh sáng, cây cối, thú vật v.v.. Tất nhiên, tồn tại tự nhiên này được hiểu theo ý nghĩa tinh thần vượt ra khỏi bản thân nó, vì thế Hegel gọi hình thái này là “hiện hữu được bảo tồn ở trong tư tưởng”. Nói cách khác, trong tôn giáo tự nhiên, “giới tự nhiên [ánh sáng, cây cối, thú vật được tôn thờ như là hiện thân của cái Tuyệt đối] không thoát ly khỏi tư tưởng [tức mang ý nghĩa tinh thần], đồng thời tư tưởng cũng không thoát ly khỏi sự hiện hữu [tức cái Tuyệt đối còn mang hình thái tự nhiên bất tất].

[2] Quan hệ biện chứng giữa tôn giáo và những tôn giáo khác nhau. Mỗi tôn giáo đều là tôn giáo trong tiềm năng, nhưng nó vẫn chỉ là trong tiềm năng, vì Tinh thần hiện tồn của nó chưa được nâng lên tới bình diện Tự-ý thức của cái Tuyệt đối.

[3] Biện chứng của tôn giáo là biện chứng của những tính quy định trong các hình thái của Tinh thần-tuyệt đối. Để xác định hình thái nào là hình thái đúng thật (hình thái khách quan) của một tôn giáo nào đó, cần phải tìm hình thái nào thích hợp với Tinh thần hiện thực của tôn giáo ấy, hình thái nào được Tự-ý thức chấp nhận và thiết định như là bản chất. Như thế, sự hình dung về việc nhập thể của Thượng đế trong các tôn giáo phương đông cổ đại không phải là hình thái đúng thật của các tôn giáo này. Hình thái này tuy cũng có mặt, nhưng không tương ứng với Tinh thần hiện thực của các tôn giáo ấy, bởi ở đây Tinh thần-tuyệt đối chưa phải là Tự-ngã, mà còn ở tình trạng trực tiếp.

[4] Hình thái cá biệt của Tinh thần mà lại bao hàm mọi hình thái khác sẽ là hình thái của tôn giáo khải thị. (§§748-787).

[5] Về mặt lịch sử, tôn giáo thờ Ánh sáng (thờ Lửa) là tôn giáo của người Ba tư cổ đại do Zoroastre sáng lập (xem thêm: Hegel: Triết học về tôn giáo, WW, XIII, phần 2, Chương I, tr. 195). Ở đây, tính quy định về cái Tuyệt đối đối với ý thức là tính quy định của sự “xác tín cảm tính”. (§90 và tiếp)

[6] Tôn giáo thoạt đầu mới là Khái niệm [Nguyên tắc] đơn thuần; và sự đối lập đầu tiên là sự đối lập giữa cái tồn tại và cái không-tồn tại: ở đây là sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối.

[7]  Về mặt triết học, sự hình dung này về Tinh thần-tuyệt đối là sự hình dung về Bản thể, tức về sự thống nhất giữa tư duy và hiện thực; nhưng Bản thể này (Ánh sáng) chưa phải là Chủ thể.

[8]  Theo Hegel, trong mọi tôn giáo của phương đông cổ đại, cái Tuyệt đối xuất hiện ra như là sự phủ định đối với Tự ngã, mang hình thức ông Chủ trong quan hệ với con người như là với Nô. Quan hệ Chủ-Nô này là đặc điểm của Tinh thần-hiện thực trong hình thức tôn giáo tương ứng. (Trong các nghiên cứu thần học thời trẻ, Hegel xét đạo Do Thái trên cơ sở mối quan hệ Chủ-Nô này giữa Thượng đế và con người). Ngoài ra, như các chú thích cho §§680, 681 đã nói, hình thái tôn giáo này vừa tương ứng với sự xác tín cảm tính, vừa vượt khỏi sự xác tín cảm tính của cấp độ ý thức, và đồng thời mang cả đặc điểm của Chủ-Nô trong cấp độ của Tự-ý thức.

[9] (1066) Hegel dùng hình ảnh mặt trời mọc lên (aufgehen) nhưng không lặn xuống (niedergehen) để ám chỉ tôn giáo nguyên thủy của phương đông không làm cho Bản thể tiêu biến đi vào trong Chủ thể. Sự vận động là đi từ Bản thể đến Chủ thể, nên theo hình ảnh ấy, sự vận động “mọc lên” từ phương đông và sẽ “lặn xuống” ở phương tây. (Xem thêm: §721 và tiếp).

[10]  Quan hệ của cái Một và cái Nhiều ở đây là ở cấp độ của sự xác tín cảm tính, tức một quan hệ không có chiều sâu. Tính đa tạp chỉ đơn thuần là thuộc tính, tùy thể.

[11]  “taumelnd”: lảo đảo, ngây ngất, thiếu tính tỉnh táo và chặt chẽ.

[12] Về mặt lịch sử, hình thái tôn giáo này tương ứng với các tôn giáo nguyên thủy của Ấn Độ. Nếu hình thái trước đây tương ứng với cấp độ “xác tín cảm tính”, thì hình thái này tương ứng với “tri giác”, còn hình thái tiếp theo sau (Tinh thần tuyệt đối như “Người Thợ tác tạo”) sẽ tương ứng với “giác tính” (cả ba đều nằm trong giai đoạn “ý thức”).

[13]  Sự “thống nhất cao cả” của Tinh thần tự tan vỡ thành một sự đa tạp của “những Tinh thần” (Geister) giống như những “thuộc tính” của sự vật trong tri giác cảm tính. Thoạt đầu, những thuộc tính này sống chung hòa bình trong sự hồn nhiên vô tội của tôn giáo thực vật (thờ hoa và cây cối) vì giới thực vật thì không có cái “tồn tại-cho mình”. Nhưng, khi tính phủ định xuất hiện ở trong thuộc tính [“cái CŨNG loại trừ”: §121], tức thuộc tính này đối lập và loại trừ thuộc tính kia, thì đó là tôn giáo động vật, trong đó “những thú vật khác nhau được tôn thờ trong nhiều dân tộc, nhất là ở Ấn Độ và Châu Phi và cũng được tôn thờ trong mọi quốc gia” (Hegel, Triết học về tôn giáo, Sđd, tr. 94).

[14]  Như đã nói, Hegel luôn cố liên kết Tinh thần của một tôn giáo nhất định với Tinh thần hiện thực, tức Tinh thần ở trong thế giới [hiện thực]. Ở đây, tôn giáo thờ thú vật tương ứng với sự phân bố rộng rãi những cộng đồng người thành những cộng đồng thù địch lẫn nhau. Rồi ở bước tiếp theo sau (“Người thợ tác tạo” (§§691-698), Tinh thần hiện thực sẽ là bước ngược lại, tức sự hợp nhất của các cộng đồng người (hay các bộ lạc) để kiến tạo nên “một sự nghiệp chung, là phương tiện và biểu trưng cho sự tập hợp của họ” như khi Hegel trình bày về bộ môn kiến trúc trong các bài giảng về Mỹ học.

[15]  Như thế, cái “tồn tại-tự mình trực tiếp” tương ứng với Thượng đế như là Thần Ánh Sáng; cái “tồn tại-cho mình trừu tượng” tương ứng với tôn giáo động vật. Bây giờ, cái tồn tại-tự mình sẽ là chất liệu cho lao động tác tạo, còn cái tồn tại-cho mình sẽ là lao động tác tạo, nhào nặn chất liệu ấy.

[16]  “Der Werkmeister”: “Người thợ tác tạo” khác với “Nhà nghệ thuật hay Nghệ nhân” (Künstler) ở giai đoạn sau (§§699-747). Về mặt lịch sử, đó là sự khác biệt giữa cổ Ai Cập và cổ Hy Lạp. “Người thợ tác tạo” điển hình cho tôn giáo cổ Ai Cập; đây là loại hình lao động bản năng, không xuất phát từ tư duy về Tinh thần mà chỉ đến được với tư duy này sau khi “thần thánh hóa” công trình tác tạo của mình. Hình thái này tương ứng với tâm thức của Nô tự đào luyện mình trong khi nhào nặn, mang lại hình thái cho sự vật nhưng không tự giác về điều này.

[17]  Ám chỉ các Kim tự tháp của Ai Cập cổ đại với chức năng là các nhà mồ. (Xem thêm: Hegel, Mỹ học, bản dịch của Phan Ngọc, NXB Văn học, 1999, phần “Nghệ thuật tượng trưng” và “kiến trúc”).

[18]  Sự đối lập này sẽ dẫn đến sự tách rời và đối lập giữa kiến trúc và điêu khắc. Ngôi đền (công trình kiến trúc) như là vỏ bọc chung quanh cho sự hình dung bằng biểu tượng cảm tính cá nhân, tức cho tượng thần (điêu khắc). (Hegel sẽ bàn kỹ về sự phát triển này trong tác phẩm Mỹ học đã dẫn).

[19] Ám chỉ kiến trúc cột tròn của Ai Cập cổ đại. (Xem thêm tiến trình biện chứng của kiến trúc cột tròn trong Mỹ học).

[20]  Ám chỉ những biểu tượng về thần linh có hình thức nửa người nửa thú, đánh dấu sự tiến hóa của nền điêu khắc cổ Ai Cập và sẽ dẫn đến nền điêu khắc cổ điển ở Hy Lạp cổ đại.

[21]  Ám chỉ những pho tượng thần Memnon cất tiếng ngân giống như tiếng kèn hạc lúc mặt trời mọc.

[22]  Ám chỉ “Hòn Đá Đen” ở Mecca, vẫn còn là ngẫu tượng được sùng bái đến tận ngày nay. Trong biểu tượng này, cái Bên trong được hình dung trong tính thuần túy của nó, do đó, chỉ là một tính bên ngoài thuần túy không có sự phát triển.

[23]  Ám chỉ những câu đố của tượng Nhân sư, Ai cập. “Những ẩn ngữ của người Ai Cập đã là những ẩn ngữ đối với bản thân những người Ai Cập” (Hegel, Mỹ học, đd). Việc giải quyết những ẩn ngữ này sẽ là công việc dành cho những người Hy Lạp: lời giải cho câu đố bí ẩn ấy, như ta đã biết, chính là bản thân con người.

[24] Ý niệm về một “tôn giáo nghệ thuật” hay về một giai đoạn của tôn giáo tương ứng với nghệ thuật đã được Schleiermacher (trong “Reden”/“Các bài nói”, Prüyer, tr. 172) nêu ra. Schleiermacher nói về một tôn giáo nghệ thuật (Kunst-religion) như là bước trung gian từ tôn giáo tự nhiên và huyền học phương đông sang tôn giáo khải thị, tuy nhiên, ông không tin có một nền tôn giáo như thế. Trong quyển Hiện tượng học, việc Hegel xem nghệ thuật là một bước phát triển (Moment) của tôn giáo và phân chia tôn giáo thành tôn giáo tự nhiên, tôn giáo nghệ thuật, tôn giáo khải thị rõ ràng chịu ảnh hưởng của Schleiermacher và Schelling. Mãi về sau này, Hegel mới phân biệt Tinh thần-tuyệt đối thành ba cấp độ khác biệt nhau: nghệ thuật, tôn giáo và triết học. (Trong Mỹ học, Hegel vẫn xem nghệ thuật là phụ thuộc rất nhiều vào tôn giáo) (dẫn theo J.H).

 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: phucdh@triethoc.edu.vn hoặc phuongcn@triethoc.edu.vn
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt