Thuyết Duy tâm Đức

Sự Khai sáng - cuộc đấu tranh của sự khai sáng chống lại sự mê tín

 

SỰ KHAI SÁNG 

CUỘC ĐẤU TRANH CỦA SỰ KHAI SÁNG CHỐNG LẠI SỰ MÊ TÍN

 

GEORG WILHELM FRIEDRICH HEGEL (1770-1831)

 


Georg Wilhelm Friedrich Hegel, “Sự Khai sáng - cuộc đấu tranh của sự khai sáng chống lại sự mê tín” trong Hiện tượng học tinh thần. Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 1086-1134.


 

SỰ KHAI SÁNG[1]

§ 538

Đối tượng riêng biệt mà sự Thức nhận thuần túy dùng sức mạnh của Khái niệm để chống lại, đó là Lòng tin; tức chống lại một hình thức cũng của ý thức thuần túy giống như bản thân sự Thức nhận thuần túy vậy, nhưng lại ở thế đối lập lại với nó trong cùng một môi trường (Element) này. Nhưng đồng thời, sự Thức nhận thuần túy cũng có mối quan hệ với thế giới hiện thực, bởi, cũng giống như Lòng tin, sự Thức nhận thuần túy là sự quay trở về lại từ thế giới hiện thực vào trong ý thức thuần túy. Vậy, trước hết, ta hãy thử xét xem hoạt động của sự Thức nhận thuần túy có đặc điểm cấu tạo như thế nào trong việc chống lại những ý đồ không trong sáng và những hình thức thức nhận bị đảo ngược về thế giới hiện thực.

§ 539

Ở trên, ta đã nói đến ý thức tĩnh tại, đó là ý thức đứng đối lập lại với cơn lốc xoáy này của việc luân phiên tự-giải thể và tự-tái tạo[2]; chính nó tạo ra phương diện của sự Thức nhận thuần túy và ý đồ. [Xem: §521]. Nhưng, như ta đã thấy, ý thức tĩnh tại này [vì là tĩnh tại nên] không chứa đựng sự Thức nhận đặc biệt nào về thế giới của sự đào luyện văn hóa. | Đúng hơn, chính bản thân thế giới văn hóa mới có được tình cảm đau đớn nhất và sự thức nhận chân thực nhất về chính mình, – đó là tình cảm về sự tan rã của mọi cái gì muốn vững bền, về việc mọi bộ phận của sự hiện hữu của nó đều bị thịt nát xương tan như bị hành hình trên bánh xe quay; và cũng chính thế giới ấy diễn đạt tình cảm này của mình bằng ngôn từ, đưa ra những phán đoán và lời nói đầy tinh tế và thông minh (geistreich) về mọi phương diện của tình cảnh của mình. Vì thế, ở đây, sự Thức nhận thuần túy không thể có hoạt động hay nội dung gì của riêng mình ngoài việc chỉ có thể giữ thái độ cảm thông (Auffassen) một cách hình thức và trung thành đối với sự thức nhận tinh tế này về thế giới và về ngôn ngữ của nó. Thế nhưng, bởi lẽ ngôn ngữ [diễn đạt tình cảm] này có tính phân tán và sự phán đoán [về thế giới đào luyện văn hóa] là cảm nghĩ thất thường trong phút giây nào đó nên lại bị lãng quên ngay, [cho nên] chỉ có một cái ý thức thứ ba mới có thể nhận thức chúng như một toàn bộ (ein Ganzes); và ý thức thứ ba này chỉ có thể được phân biệt rõ như là sự Thức nhận thuần túy chỉ khi nó tập hợp những nét phác họa phân tán ấy thành một bức tranh chung và rồi biến chúng thành một sự Thức nhận cho tất cả mọi người[3](836).

§ 540

Bằng phương tiện đơn giản này, sự Thức nhận sẽ làm sáng tỏ sự hỗn loạn của thế giới [văn hóa] này. Vì, như đã thấy, không phải những lãnh vực (Massen) [của thế giới văn hóa], không phải những Khái niệm nhất định lẫn những tính cá nhân là cái bản chất của [thế giới] hiện thực này, trái lại, hiện thực ấy chỉ có bản thể [thực thể] (Substanz) và chỗ dựa duy nhất là ở trong Tinh thần, [tức là] Tinh thần hiện hữu với tư cách là sự phán đoán và đàm luận; và sự quan tâm (Inte-resse) để có được một nội dung cho sự đàm luận và lý sự (Räsonnieren) này mới là cái duy nhất duy trì cái toàn bộ và những lãnh vực (Massen) trong kết cấu của cái toàn bộ này.

Ở trong ngôn ngữ được sự Thức nhận sử dụng, Tự-ý thức của nó vẫn còn là một cá nhân “tồn tại cho-mình” một cách riêng lẻ, cô lập, nhưng sự hư huyễn (Eitelkeit) của nội dung cũng đồng thời là sự hư huyễn của cái Tự ngã biết rằng nội dung là hư huyễn. [Nhưng], bây giờ, khi ý thức – cảm thông [hay: lãnh hội] một cách tĩnh tại tất cả những lời phát ngôn tinh tế, thông minh này về sự hư huyễn – thu góp những ngôn từ đáo đạt nhất, có sức thâm nhập vào “Sự việc” một cách rốt ráo [nhất] thành một tập hợp, thì cái tâm hồn (Seele) vẫn còn duy trì cái toàn bộ, [tức] sự hư huyễn của lối phán đoán [phê phán] tinh tế thông minh, đi vào tiêu vong cùng một lúc với hình thức khác của sự hư huyễn, đó là sự hư huyễn trước đây của sự tồn tại. Sự tập hợp [mới] này sẽ cho tuyệt đại đa số người thấy rằng nó là sự châm biếm thông minh hơn nhiều, hay ít nhất cho mọi người thấy rằng nó là một sự châm biếm đa dạng hơn hẳn sự châm biếm của riêng họ; cũng như cho thấy rằng “sự hiểu biết tinh tường hơn” và sự “phán đoán” một cách tổng quát là cái gì có tính phổ biến và bây giờ cũng trở thành quen thuộc một cách phổ biến. | Qua đó, sự quan tâm riêng lẻ – vẫn còn sót lại – sẽ bị tiêu trừ, và việc thức nhận riêng lẻ (das einzehne Einsehen) sẽ hòa tan vào trong sự Thức nhận phổ biến (die allgemeine Einsicht).

Tuy nhiên, sự nhận biết về cái Bản chất [Hữu thể tuyệt đối] vẫn còn kiên cố và đứng lên trên sự nhận biết [về sự] trống rỗng và hư huyễn; nên sự Thức nhận thuần túy chỉ xuất hiện thực sự trong hình thức hoạt động đích thực của nó, là trong chừng mực nó đi vào cuộc đấu tranh chống lại Lòng tin.

a

CUỘC ĐẤU TRANH CỦA SỰ KHAI SÁNG

CHỐNG LẠI SỰ MÊ TÍN

 

§ 541

[I. Thái độ phủ định của sự Thức nhận đối với Lòng tin:]

Các phương thức phủ định [phê phán] đa dạng của ý thức như thái độ của thuyết hoài nghi, của thuyết duy tâm lý thuyết và thực hành đều là những hình thái ở cấp thấp so với hình thái [phê phán] của sự Thức nhận thuần túy và của sự bành trướng của sự Thức nhận này, tức là của sự Khai sáng (die Aufklärung); vì lẽ sự Thức nhận thuần túy là con đẻ của bản thể [của Tinh thần]: nó biết rằng, Tự ngã thuần túy của ý thức là tuyệt đối, và [do đó] đi vào cuộc đấu tranh chống lại [loại] ý thức thuần túy [Lòng tin] về cái Bản chất tuyệt đối của mọi hiện thực.

Vì Lòng tin và sự Thức nhận đều là ý thức thuần túy cả, nhưng lại đối lập nhau về hình thức: cái bản chất nơi Lòng tin là tư tưởng (Gedanke) [đơn thuần] chứ chưa phải là Khái niệm (Begriff) và vì thế, là cái gì đối lập tuyệt đối với Tự-ý thức; trong khi đó, cái bản chất nơi sự Thức nhận thuần túy chính là Tự-ngã; như vậy, giữa chúng với nhau (füreinander/[inter se]), cái này là cái đối lập [phủ định] tuyệt đối đối với cái kia.

Khi xuất hiện như cuộc đấu tranh chống lại nhau, mọi nội dung đều thuộc về phía Lòng tin, bởi trong môi trường tĩnh tại của tư tưởng, mọi yếu tố đều có sự tự tồn [cho riêng mình]. | Trong khi đó, thoạt đầu, phía sự Thức nhận thuần túy không mang nội dung nào cả, hay đúng hơn, nó là sự tiêu biến thuần túy [sự thủ tiêu đơn thuần] của nội dung; thế nhưng, thông qua tiến trình phủ định chống lại cái phủ định nó [Lòng tin], sự Thức nhận thuần túy sẽ tự hiện thực hóa chính mình và mang lại một nội dung cho chính mình[4].

§ 542

[a) Sự lan tỏa của sự Thức nhận thuần túy:]

Nó [sự Khai sáng] biết Lòng tin là cái đối lập lại với chính nó, với lý tính và chân lý. Với nó, nếu Lòng tin nói chung là mạng lưới được dệt bằng toàn những mê tín, tiên kiến và sai lầm, thì nó cũng còn thấy rằng cái ý thức bao trùm toàn bộ nội dung này được tổ chức thành một “vương quốc” của sai lầm, trong đó sự thức nhận sai lầm là lãnh vực (Masse) chung của [loại] ý thức trực tiếp, ngây thơ và không có được sự phản tư vào trong chính mình này. | Nhưng đồng thời, sự thức nhận sai lầm này [thật ra] cũng có trong chính mình yếu tố của sự tự-phản tư, yếu tố của Tự-ý thức, tách rời khỏi tính ngây thơ đơn giản của nó, [nhưng biết] giữ lại sự phản tư này ở phía sau lưng, đó là một sự thức nhận giữ riêng cho-mình và là ý đồ đen tối nhằm lừa bịp trạng thái ý thức [ngây thơ] kia. Lãnh vực [tinh thần ngây thơ] kia [của quần chúng đông đảo] là nạn nhân của sự lừa đảo của một giới giáo sĩ (Priesterschaft) đầy lòng ghen tị và huênh hoang cho rằng chỉ có riêng mình là nắm giữ được sự thức nhận, cũng như theo đuổi những mục đích ích kỷ riêng tư khác. | Đồng thời, giới giáo sĩ này âm mưu câu kết với bọn cầm quyền chuyên chế là những kẻ giữ tư thế như là một nhất thể tổng hợp một cách vô-khái niệm (begrifflos) [thô thiển] về cả hai vương quốc hiện thực lẫn lý tưởng này, – một sản phẩm thiếu chặt chẽ một cách lạ lùng – ; đồng thời lại đứng lên trên cả sự thức nhận tồi tệ của quần chúng lẫn ý đồ xấu xa của giới giáo sĩ, và dầu vậy, vẫn hợp nhất cả hai điều này bên trong lòng nó. | Từ sự ngu muội và hoang mang trong quần chúng đông đảo do mánh lới bịp bợm của giới giáo sĩ tạo ra, bọn cầm quyền chuyên chế khinh bỉ cả hai và chỉ biết thủ lợi để có được sự cai trị yên ổn và tha hồ thỏa mãn khoái lạc và thực hiện ý muốn tùy tiện của mình. | Nhưng đồng thời, bản thân bọn cầm quyền chuyên chế cũng tồn tại ngay trong bầu khí “thức nhận” ngột ngạt, mù mịt này, [tức] trong tình trạng cũng không kém phần mê tín và sai lầm[5].

§ 543

Sự Khai sáng chống lại ba phương diện trên đây của đối thủ không phải không có sự phân biệt. | Vì lẽ bản chất của sự Khai sáng là sự thức nhận thuần túy, [tức] là cái phổ biến tự-mình và cho-mình [per se], nên mối quan hệ thực sự của nó với cái đối cực khác là mối quan hệ trong đó nó chỉ liên quan đến cái chung và cái giống nhau trong cả hai phía. Phương diện của tính cá biệt [sự tồn tại cá nhân] tự cô lập khỏi ý thức ngây thơ phổ biến là cái đối lập lại với nó và nó không thể trực tiếp đụng chạm đến được. Vì thế, ý chí [riêng lẻ] của giới giáo sĩ bịp bợm và của bọn chuyên chế áp bức không phải là đối tượng trực tiếp cho việc phê phán của nó; trái lại, đối tượng của nó là sự thức nhận không có ý chí và không có sự tồn tại-cho-mình được cá thể hóa một cách cô lập, [tức] là Khái niệm (Begriff) về Tự-ý thức tự-giác [tuy đã] có sự tồn tại nơi lãnh vực (Masse) [trong quần chúng] nhưng vẫn chưa hiện diện ở đó [trong ý nghĩa đầy đủ, đích thực] với tư cách là Khái niệm (Begriff).

Nhưng, vì sự Thức nhận thuần túy muốn giải cứu hình thái thức nhận ngay thật với bản tính ngây thơ của nó ra khỏi những tiên kiến và sai lầm, nên nó tước đoạt từ tay của ý đồ xấu xa [của giáo sĩ và kẻ thống trị chuyên chế] quyền lực thực hiện ý đồ và sức mạnh lừa bịp, [vì] đối với vương quốc của họ, chính cái ý thức vô-khái niệm (begrifflos) [ngu muội, ngây thơ, chưa phát triển] của lãnh vực phổ biến [quần chúng] mới là nơi cung cấp đất đai và vật liệu [để họ xây dựng nên vương quốc của sự lừa bịp và áp bức], nghĩa là, sự tồn tại-cho-mình [của vương quốc ấy] tìm thấy bản thể của mình ở trong ý thức đơn giản [ngây thơ] nói chung[6].

§ 544

 [Như vậy], bây giờ, quan hệ của sự Thức nhận thuần túy đối với [loại] ý thức ngây thơ về Hữu thể tuyệt đối là quan hệ có hai mặt. | Một mặt, sự Thức nhận thuần túy – về mặt tự-mình – cũng là một với loại ý thức ngây thơ. | Nhưng, mặt khác, ý thức ngây thơ này để cho Hữu thể-tuyệt đối cũng như những bộ phận của nó ở yên bên trong môi trường [Element] đơn giản của tư tưởng, cho phép chúng tự tồn ở trong đó, và có giá trị chỉ như cái [tồn tại] tự-mình của mình (sein Ansich) và do đó, có giá trị một cách khách quan. | Tuy nhiên, khi làm như thế, ý thức ngây thơ đã phủ nhận [đã từ bỏ] cái tồn tại-cho-mình của chính mình ở trong cái [tồn tại] tự-mình này. [Nhưng] xét theo phương diện trước, đối với sự Thức nhận thuần túy, Lòng tin này – về mặt “tự-mình” – là Tự-ý thức thuần túy và nó chỉ còn có nhiệm vụ là hãy trở thành “cho-mình” [minh nhiên như là Tự-ý thức], nên sự Thức nhận thuần túy tìm thấy trong Khái niệm này về Tự-ý thức môi trường (das Element) trong đó sự Thức nhận thuần túy tự hiện thực hóa chính mình, để thế chỗ cho sự thức nhận sai lầm.

§ 545

Vì lẽ, xét từ phương diện này, cả hai về bản chất là một và mối quan hệ của sự Thức nhận thuần túy là diễn ra thông qua và ở trong cùng một môi trường (Element), nên sự tương thông giữa chúng là trực tiếp, việc cho và nhận giữa chúng với nhau là một sự thâm nhập vào nhau không trở ngại. Bất kể mũi cọc nào được đóng sâu vào ý thức đến đâu, thì nơi tự-mình (an sich), ý thức vẫn là tính đơn giản [về bản chất], trong đó mọi sự đều hòa tan, đều bị lãng quên và không bị chướng ngại, và vì thế, nó hoàn toàn có khả năng tiếp nhận (empfänglich/[receptiv]) [tác động của] Khái niệm. Vì lý do đó, “thông điệp” của sự Thức nhận thuần túy có thể so sánh với sự bành trướng, hay đúng hơn, với sự lan tỏa âm thầm của một mùi hương trong bầu không khí không bị chướng ngại. Nó là một sự lây nhiễm, thâm nhập cùng khắp, trước đó không để ai chú ý vì không xuất hiện ra như cái gì đối lập rõ ràng đối với môi trường mà nó len lõi vào, và vì thế, không thể nào đề kháng được. Chỉ một khi sự lây nhiễm đã lan tỏa cùng khắp, thì ý thức – vốn không hề đề phòng ảnh hưởng của nó – mới tỉnh ngộ. Bởi vì, điều mà ý thức này đã đón nhận vào trong chính mình đúng là cái gì đơn giản, đồng tính với nó, song đồng thời cũng là tính đơn giản của sự phủ định đã tự phản tư (in sich reflektierte Negativität), tức của cái sau đó sẽ phát triển thành cái gì đối lập đúng theo bản tính riêng của nó và cũng chính là cái sẽ gợi cho ý thức nhớ lại trạng thái trước đây của ý thức. | Cái đồng tính đơn giản này chính là Khái niệm (Begriff), là cái biết đơn giản biết rõ cả chính mình lẫn cái đối lập với mình, tuy nhiên, biết cái đối lập này như là cái đối lập đã bị thủ tiêu [aufgehoben: đã bị quy giảm thành một “yếu tố” đang tiêu biến đi] ở ngay bên trong chính mình [bên trong tự-nhận thức của Khái niệm]. Cho nên, khi ý thức [bắt đầu] nhận diện sự Thức nhận thuần túy thì sự thức nhận này đã lan tỏa khắp chốn. | Cuộc đấu tranh chống lại sự Thức nhận thuần túy càng bộc lộ sự thật là sự lây nhiễm đã diễn ra rồi; cuộc đấu tranh đã được tiến hành quá muộn và bất kỳ phương thuốc nào cũng chỉ làm cho căn bệnh trầm trọng thêm bởi căn bệnh đã lan đến não tủy của đời sống tinh thần, nghĩa là đến tận trong Khái niệm hay tận trong bản chất thuần túy [nhất] của ý thức, và vì thế, không còn sức lực nào bên trong ý thức để thắng vượt được căn bệnh nữa. Vì lẽ căn bệnh ăn sâu nơi bản thân bản chất [sâu xa nhất], nên những biểu hiện của nó – khi còn ở dạng riêng lẻ – cũng như những triệu chứng hời hợt bên ngoài của nó có thể bị đẩy lùi và thuyên giảm. Điều này lại cực kỳ có lợi cho căn bệnh, vì nó không cần phí phạm sức lực một cách vô ích, cũng như không cần tỏ ra tương xứng với bản chất [nguy hiểm] của nó, điều có thể xảy ra nếu giá như nó xuất hiện dưới dạng những triệu chứng hay những bột phát cấp tính một cách riêng lẻ đối kháng lại với nội dung của Lòng tin và với sự liên kết của Lòng tin với thế giới hiện thực bên ngoài. Đàng này, ngược lại, với tư cách là một Tinh thần vô hình, vô ảnh, nó len lỏi vào khắp những bộ phận cao quý nhất và nhanh chóng chiếm lĩnh triệt để toàn bộ nội tạng và tứ chi của cái “ngẫu tượng” (Gưtzen) đã mê man kia, để rồi, “vào một buổi sáng đẹp trời nào đó, nó [sự Thức nhận thuần túy] huých mạnh cùi chỏ vào ông bạn ngẫu tượng kia và thế là: huỵch ! A lê hấp ! ngẫu tượng nằm lăn dưới đất !”[7]. Việc xảy ra ở “buổi sáng đẹp trời” ấy không làm cho buổi trưa trở nên đẫm máu, nếu sự lây nhiễm đã thâm nhập hoàn toàn vào khắp mọi cơ quan của đời sống tinh thần. | Và thế là chỉ duy có sự hồi ức mới còn lưu giữ lại hình dáng chết chóc của trạng thái tinh thần trước đây như lưu giữ một câu chuyện đã thuộc về lịch sử và những con người của “muôn năm cũ” ấy cũng không hề biết câu chuyện đã xảy ra như thế nào. | Và chính bằng cách ấy, con rắn mới toanh này của sự khôn ngoan – nay uốn mình vươn cao lên để được sùng bái – đã chỉ lột bỏ đi một lớp da khô của mình mà không hề đau đớn[8].

§ 546

[b) Sự đối lập của sự Thức nhận đối với Lòng tin:]

Nhưng, việc tiếp tục đan dệt âm thầm này của Tinh thần[9] ở nơi cái “Bên trong” đơn giản của bản thể mình [tức trong lãnh vực “xúc cảm”], tức việc Tinh thần che dấu hoạt động của mình với chính mình chỉ mới là một phương diện của việc hiện thực hóa sự Thức nhận thuần túy mà thôi. Sự lan tỏa của Thức nhận thuần túy không chỉ gói gọn trong việc để cho “cái giống nhau” nối kết với “cái giống nhau”, và việc hiện thực hóa của nó cũng không chỉ là một sự bành trướng không gặp trở lực gì. Trái lại, hành động của bản chất [nguyên tắc] phủ định cũng đồng thời thiết yếu là một tiến trình đã được phát triển của việc tự-phân biệt chính mình (eine entwickelte sich in sich unterscheidende Bewegung); tiến trình ấy – với tư cách là hành động có ý thức – phải phô diễn những yếu tố của nó trong một hình thức hiện hữu công khai, dứt khoát và thể hiện trong một hình thức hết sức ồn ào và trong một cuộc đấu tranh đầy bạo lực chống lại cái đối lập, xét như cái đối lập[10].

§ 547

Vì thế, ta hãy xem sự Thức nhận thuần túy và ý đồ thuần túy thể hiện thái độ phủ định của chúng chống lại cái khác đang đứng đối lập lại với chúng như thế nào.

Sự Thức nhận thuần túy và ý đồ, khi hành xử một cách phủ định, thì, – bởi lẽ Khái niệm [nguyên tắc] của nó là toàn bộ tính bản chất và không có gì nằm ở bên ngoài nó – chỉ có thể là cái phủ định của chính nó. Do đó, với tư cách là sự Thức nhận, nó chuyển hóa thành cái phủ định của sự Thức nhận thuần túy, tức trở thành phản-chân lý và phản-lý tính; và, với tư cách là ý đồ, nó chuyển hóa thành cái phủ định của ý đồ thuần túy, tức trở thành sự dối trá và sự không trong sạch của mục đích.

§ 548

Nó [sự Thức nhận thuần túy] tự vướng vào sự mâu thuẫn này bởi nó lao vào cuộc tranh cãi và tưởng rằng (meint) phải đấu tranh với một cái gì khác với nó. Nó chỉ đơn thuần tưởng như thế thôi, vì bản chất của nó – là tính phủ định tuyệt đối – chính là ở chỗ có cái tồn tại-khác này ở ngay bên trong chính mình. Khái niệm tuyệt đối là phạm trù; trong Khái niệm ấy, cái biết (Wissen) và đối tượng của cái biết là cùng một thứ. Kết quả là: cái gì do sự Thức nhận thuần túy phát biểu ra như là cái khác của nó, như là một sai lầm hay dối trá thì không thể là gì khác hơn là chính bản thân nó; nó chỉ có thể lên án cái chính là nó. Cái gì không [hợp] lý tính (vernünftig), không phải là chân lý; hay cái gì không được thấu hiểu bằng Khái niệm (begriffen) [được xác định bằng Khái niệm] thì không tồn tại. | Vậy, khi Lý tính nói về một cái khác với nó thì, trong thực tế, nó chỉ nói về chính mình; trong khi nói ra như vậy, Lý tính không đi ra khỏi chính mình[11].

Do đó, cuộc đấu tranh này với cái đối lập kết hợp trong nó ý nghĩa của [tiến trình] hiện thực hóa của chính sự Thức nhận. Sự hiện thực hóa ở ngay trong tiến trình phát triển những yếu tố của nó và thu hồi chúng lại vào trong chính nó. | Một bộ phận của tiến trình này là tạo ra sự phân biệt, trong đó sự Thức nhận của Lý tính tự đối lập với chính mình như là đối tượng; bao lâu nó còn ở trong tình trạng ấy, nó tự tha hóa với chính nó. Với tư cách là sự Thức nhận thuần túy, nó không có nội dung nào cả; tiến trình hiện thực hóa của nó là ở chỗ làm cho bản thân nó trở thành nội dung cho chính nó, bởi không một cái nào khác có thể trở thành nội dung cho nó được, vì nó là Tự-ý thức của phạm trù [là phạm trù đã trở thành tự-giác]. Nhưng vì sự Thức nhận này thoạt đầu tưởng rằng nội dung là ở nơi cái đối lập của nó và biết về nội dung này chỉ đơn thuần như là nội dung, chứ chưa biết về nội dung như là về chính mình, nên sự Thức nhận thuần túy không nhận ra chính mình ở trong nội dung ấy. Cho nên, việc hoàn tất trọn vẹn sự Thức nhận có ý nghĩa như là tiến trình nhận thức nội dung – vốn thoạt đầu như là nội dung khách quan đối lập với mình – như là nội dung của chính mình. Tuy nhiên, qua đó, kết quả của nó sẽ không phải là sự tái lập những sai lầm mà nó đã đấu tranh chống lại, cũng không đơn thuần là Khái niệm ban đầu của nó, mà là một sự Thức nhận biết rõ sự phủ định tuyệt đối đối với chính mình như là hiện thực của chính mình, như là Tự ngã của chính mình, hay nói khác đi, là một sự Thức nhận mà Khái niệm của nó đang tự nhận thức chính mình.

Bản tính tự nhiên này của cuộc đấu tranh giữa sự Khai sáng với những sai lầm, tức cuộc đấu tranh với chính nó ở trong những sai lầm ấy và việc lên án những gì do chính nó khẳng định là cái gì [thể hiện ra minh nhiên] cho ta (für uns) [nhà hiện tượng học quan sát tiến trình], hay nói cách khác, còn là tự-mình (an sich) [mặc nhiên, chưa minh nhiên] nơi bản thân sự Khai sáng và cuộc đấu tranh của nó. Tuy nhiên, phương diện đầu tiên của cuộc đấu tranh này – tức việc gây ô nhiễm của sự Khai sáng do đưa thái độ phủ định [có tính phá hủy] vào trong sự tự-đồng nhất trong sạch thuần túy –, đó là cách nhìn của Lòng tin đối với sự Khai sáng: Lòng tin xem sự Khai sáng như là sự lừa dối, phản lý tính và có ý đồ xấu xa, cũng giống như sự Khai sáng xem Lòng tin là sai lầm và tiên kiến.

Xét về nội dung của sự Khai sáng, thoạt đầu nó chỉ là sự Thức nhận trống rỗng, còn nội dung của sự Thức nhận ấy xuất hiện ra như một cái khác, xa lạ với nó. Do đó, nó tìm thấy nội dung này trong hình thái của cái gì chưa phải là của chính nó, như cái gì tồn tại hoàn toàn độc lập với nó, tức đó là nội dung được tìm thấy trong Lòng tin.

§ 549

Như vậy, thoạt tiên và nói chung, sự Khai sáng quan niệm về đối tượng của nó theo kiểu xem đối tượng như là sự Thức nhận thuần túy, và do không nhận biết chính mình ở trong đó, nên lý giải nó như là sự sai lầm. Trong sự Thức nhận, xét như sự Thức nhận, ý thức quan niệm về đối tượng theo kiểu đối tượng ấy trở thành cái bản chất của [đời sống] ý thức, hay trở thành một đối tượng mà ý thức thâm nhập vào, trong đó ý thức bảo tồn chính mình (sich erhält), tự tại nơi chính mình (bei sich selbst) và hiện diện cho chính mình (sich gegenwärtig bleibt), và, bởi lẽ qua đó, ý thức là tiến trình vận động của đối tượng ấy, nên chính ý thức tạo ra (hervorbringt) đối tượng. Đây chính là điểm mà sự Khai sáng nói rất đúng về Lòng tin khi cho rằng Hữu thể-tuyệt đối được Lòng tin tín ngưỡng là một tồn tại của chính ý thức của Lòng tin, là tư tưởng của riêng nó, là một sản phẩm được tạo ra bởi chính ý thức[12]. Kết quả là: sự Khai sáng lý giải đối tượng ấy như là một sự sai lầm, như là một sản phẩm tưởng tượng về chính cái là bản thân sự Khai sáng.

Như thế, khi sự Khai sáng muốn dạy cho Lòng tin về sự sáng suốt mới mẻ này, nó thật ra không nói cho Lòng tin điều gì mới cả. | Vì đối tượng của bản thân Lòng tin cũng chính là điều này, đó là cái bản chất thuần túy của chính ý thức riêng của Lòng tin, khiến cho ý thức này không hề thấy mình bị mất mát và bị phủ định trong đối tượng ấy, mà đúng hơn, đặt trọn lòng tin cậy vào đó, có nghĩa là, nó tìm thấy chính mình ở đó với tư cách là cái ý thức [cá biệt] này, hay nói khác đi, thấy chính mình trong đó như là Tự-ý thức. Khi tôi đặt lòng tin vào ai, thì đối với tôi, sự xác tín của người ấy về chính mình cũng là sự xác tín về chính tôi; tôi nhận biết cái tồn tại-cho-mình của tôi trong người ấy; tôi biết rằng người ấy thừa nhận điều này, và đối với người ấy, điều này vừa là mục đích vừa là bản chất của chính anh ta[13]. Thế mà Lòng tin chính là sự tin cậy (hay tin tưởng) (Vertrauen)[14], bởi lẽ ý thức của lòng tin có mối quan hệ trực tiếp với đối tượng của nó, và do đó, cũng trực tiếp thấy mình [trực quan: anschaut] là một với đối tượng và ở trong đối tượng. Ngoài ra, khi cái gì đó là đối tượng cho tôi, trong đó tôi nhận biết chính mình, thì đồng thời, trong đối tượng ấy, tôi thực sự tồn tại cho tôi như một Tự-ý thức khác, tức là, như một Tự ý thức đã trở thành tha hóa trong đối tượng ấy khỏi tính cá biệt [sự cá thể hóa riêng lẻ], khỏi sự tồn tại tự nhiên và bất tất của mình, nhưng trong đó, một phần tiếp tục là Tự-ý thức, và phần khác vẫn là một ý thức bản chất giống như sự Thức nhận thuần túy[15]. Trong Khái niệm của sự Thức nhận không chỉ đơn thuần có điều sau đây, đó là ý thức nhận biết chính mình ở trong đối tượng được nó thức nhận, và tìm thấy chính mình ở đó một cách trực tiếp, không cần trước tiên phải rời bỏ cái đã được suy tưởng [“môi trường” tư tưởng], sau đó mới quay trở lại vào trong chính mình; trái lại, Khái niệm ấy cũng bao hàm cả việc ý thức nhận biết chính mình như là tiến trình trung giới, hay nói cách khác, nhận biết chính mình như là tác nhân hành động của việc tạo ra [đối tượng]. | Qua đó, ý thức đạt được trong tư tưởng một cách minh nhiên sự thống nhất của Tự ngã mình như là sự thống nhất của Tự-ngã và đối tượng.

Vậy, Lòng tin cũng chính là [loại] ý thức như thế. | Sự tuân phục và việc làm [sùng bái] là yếu tố thiết yếu, nhờ đó sự xác tín về tồn tại ở nơi Hữu Thể-tuyệt đối được hình thành. Việc làm này của Lòng tin đúng là không xuất hiện ra như thể bản thân Hữu thể-tuyệt đối được tạo ra từ việc làm ấy. Nhưng, Hữu thể-tuyệt đối của Lòng tin thiết yếu cũng không phải là Hữu thể trừu tượng nằm ở phía bên kia của ý thức có lòng tin, trái lại, Hữu thể ấy là Tinh thần của công đồng tôn giáo (Gemeinde), là sự thống nhất của Hữu thể trừu tượng và Tự-ý thức[16]. Chính hành động [sùng bái] của công đồng tôn giáo là yếu tố thiết yếu làm cho Hữu thể-tuyệt đối trở thành Tinh thần của công đồng. | Tinh thần này sở dĩ là Hữu thể-tuyệt đối là nhờ thông qua hành động “tạo ra” của ý thức, hay nói đúng hơn, không thể tồn tại [như là Tinh thần của công đồng] nếu không được tạo ra bởi ý thức. | Vì tiến trình “tạo ra” tuy là thiết yếu, nhưng cũng thiết yếu rằng đó không phải là cơ sở duy nhất [cho sự tồn tại] của Hữu thể-tuyệt đối, mà chỉ là một yếu tố. Hữu thể-tuyệt đối đồng thời là tự-mình và cho-mình[17].

§ 550

Ở một phương diện khác, Khái niệm của sự Thức nhận thuần túy được xem là một cái gì khác với đối tượng của chính nó, bởi chính tính chất phủ định này hình thành nên đối tượng. Nên, từ phương diện khác này, sự Thức nhận thuần túy tuyên bố Hữu thể-tuyệt đối của Lòng tin như cái gì xa lạ với Tự-ý thức, như cái gì không phải bản chất [con đẻ] của nó mà như “một đứa bé” bị đánh tráo vào trong Tự-ý thức [ám chỉ sự lừa bịp của giới giáo sĩ]. Chỉ có điều, ở đây, sự Khai sáng hoàn toàn khờ khạo: Lòng tin xem sự Khai sáng như một cách nói không biết mình đang nói gì, cũng như không hiểu gì về nội tình khi lên tiếng nào là về sự bịp bợm của giáo sĩ, về sự lừa mị quần chúng. Sự Khai sáng nói về những điều này như thể chỉ cần dựa vào vài câu thần chú “úm ba la” của những tên thuật sĩ man trá là đánh tráo được ngay cái gì tuyệt đối xa lạ và khác biệt thành cái bản chất cho ý thức; và nói ngay được rằng cái đó đích thị là bản chất cho ý thức, rằng ý thức tin tưởng và tin cậy vào đó và tìm cách làm cho nó tùy thuận với chính mình, – nghĩa là, nói rằng, trong đó, ý thức trực nhận cái bản chất [tuyệt đối] thuần túy của mình giống hệt như là trực nhận tính cá nhân riêng lẻ và [đồng thời] phổ biến của chính mình, và, bằng việc làm của mình, tạo ra sự thống nhất này của chính mình với bản chất của mình. Như thế, khi sự Khai sáng khẳng định cái gì là xa lạ với ý thức thì cũng là trực tiếp tuyên bố rằng cái đó là bản tính thiết cốt nhất (das Eigenste) của bản thân ý thức[18]. Vậy, làm thế nào sự Khai sáng có thể nói về sự bịp bợm và mê hoặc được? Chính bởi sự Khai sáng phát biểu trực tiếp về Lòng tin đúng ngay cái đối lập lại với những gì nó khẳng định về Lòng tin, nên trong thực tế, sự Khai sáng tự bộc lộ mình – trước Lòng tin – như là sự nói dối có ý thức. Làm sao sự bịp bợm và mê hoặc có thể hoành hành được ở nơi mà ý thức – trong tính chân lý của nó – trực tiếp có được sự xác tín về chính mình, nơi nó chiếm lĩnh bản thân mình trong đối tượng của mình, bởi ý thức vừa tìm thấy mình, vừa tự tạo ra chính mình ở trong đó? Sự phân biệt không còn tồn tại nữa, kể cả trong ngôn từ. Khi đặt ra câu hỏi chung rằng: phải chăng có thể có sự mê hoặc quần chúng, thì trong thực tế, câu trả lời hẳn là: câu hỏi ấy không ổn, bởi trong việc này, không thể nào mê hoặc quần chúng được[19]. Đồng thau thay vì vàng, tiền giả thay vì tiền thật quả là có thể lừa được một số ít người, trận đánh thua hư trương thành trận đánh thắng, và mọi điều dối trá đủ loại về những sự việc cảm tính và riêng lẻ đều có thể đáng tin trong một thời gian nào đó, nhưng, trong việc nhận biết về cái bản chất, là nơi ý thức tìm thấy sự xác tín trực tiếp về chính mình thì ý tưởng về sự lừa mị hoàn toàn không có chỗ đứng.

§ 551

[II. Lập trường của sự Khai sáng:]

Bây giờ ta hãy tiếp tục xem Lòng tin trải nghiệm về sự Khai sáng như thế nào trong những yếu tố khác nhau của ý thức của nó; tức về kinh nghiệm của Lòng tin mà điều vừa vạch ra trên đây mới chỉ là nét khái quát. Những yếu tố này là: [1] tư tưởng thuần túy, hay, với tư cách là đối tượng, đó là Hữu thể-tuyệt đối [xét như là] tự-mình và cho-mình, [2] sau đó, là mối quan hệ của Lòng tin – như một hình thức của cái biết – với Hữu thể-tuyệt đối này, tức với cơ sở tối hậu của Lòng tin; và sau cùng, [3] là mối quan hệ của nó với Hữu thể-tuyệt đối thể hiện trong việc làm của lòng tin, tức trong việc sùng bái và phục vụ (Dienst) của nó[20]. Cũng giống như sự Thức nhận thuần túy đã không nhận ra chính mình và đã chối bỏ chính mình trong Lòng tin nói chung, ta sẽ thấy rằng sự Thức nhận thuần túy [sự Khai sáng] – trong những yếu tố kể trên – cũng sẽ lấy thái độ trái ngược (verkehrt) [hay “đảo điên”] tương tự như vậy.

§ 552

 [1] [Trước hết], sự Thức nhận thuần túy có thái độ phủ định đối với Hữu thể-tuyệt đối của loại ý thức có lòng tin. [Đối với nó], Hữu thể này là tư tưởng thuần túy, và tư tưởng thuần túy [này] được thiết định bên trong ý thức như là đối tượng hay như là bản chất; ở trong ý thức có lòng tin, cái tồn tại “tự mình” (das Ansich) này của tư tưởng đồng thời tiếp nhận – đối với cái ý thức tồn tại cho-mình – hình thức của tính đối tượng [khách quan] nhưng chỉ là hình thức trống rỗng, [bởi] nó chỉ tồn tại trong tính quy định của một cái gì được “hình dung thành biểu tượng” (ein Vorgestelltes). Đối với sự Thức nhận thuần túy, bởi nó là ý thức thuần túy xét theo phương diện của cái Tự ngã tồn tại-cho-mình, nên cái khác này xuất hiện ra như một cái phủ định của Tự-ý thức. Cái khác này có thể được nắm lấy như là cái tồn tại tự-mình thuần túy của tư tưởng hoặc cũng có thể như là cái tồn tại của sự xác tín cảm tính [đối tượng của kinh nghiệm cảm tính]. Nhưng, vì lẽ cái khác này đồng thời tồn tại cho Tự ngã, và Tự ngã này – với tư cách là Tự ngã – có một đối tượng, tức là một ý thức hiện thực, nên đối với sự Thức nhận, đối tượng riêng biệt này, xét như là đối tượng, là một sự vật (ein Ding) tồn tại thông thường của sự xác tín cảm tính. Đối tượng này của sự Thức nhận xuất hiện ra cho nó nơi hình ảnh biểu tượng (Vorstellung) của Lòng tin. Nó lên án biểu tượng này và khi làm như vậy, nó lên án đối tượng của chính nó. Tuy nhiên, ngay trong việc làm này, nó đã phạm sai lầm đối với Lòng tin khi hiểu đối tượng của Lòng tin như thể đó là đối tượng [cảm tính] của chính nó [của sự Khai sáng]. Dựa theo cách hiểu này, nó phát biểu về Lòng tin rằng, Hữu thể-tuyệt đối của Lòng tin là một hòn đá, một khối gỗ, có mắt như mù[21], hoặc chẳng qua là một nhúm bột mì lớn lên trên ruộng lúa, được bàn tay người nhào nặn [thành một ngẫu tượng] rồi lại trở về lòng đất, hoặc bằng bất kỳ phương cách nào khác do Lòng tin nhân hình hóa cái Hữu thể-tuyệt đối này, làm cho Hữu thể ấy mang tính đối tượng [khách quan] và có thể hình dung được[22].

§ 553

Ở đây, sự Khai sáng – tự cho mình là thuần túy[23] – đã biến cái, đối với Tinh thần, – là sự sống đời đời và là Chúa thánh thần thành một sự vật hiện thực, vô thường, và làm ô uế cái thiêng liêng ấy bằng một quan niệm tự nó là vô giá trị của sự xác tín cảm tính, – bằng một quan niệm không hề có mặt nơi thái độ sùng bái của Lòng tin, khiến cho khi nêu ra phương diện này, sự Khai sáng chỉ hoàn toàn bịa đặt và phỉ báng Lòng tin mà thôi. Điều được Lòng tin sùng bái thì, đối với Lòng tin, không phải là đá, là gỗ, cũng không phải là bột mì hay bất kỳ loại vật thể cảm tính, vô thường nào cả. Nếu sự Khai sáng nhận ra điều ấy rồi bảo rằng dù sao đối tượng của Lòng tin “cũng là” sự vật cảm tính ấy, hoặc thậm chí bảo rằng, chính đó mới là cái bản chất và sự thật, thì, Lòng tin, một phần, vẫn biết rõ cái “cũng là” ấy, nhưng cái này hoàn toàn không nằm trong nội dung được Lòng tin sùng bái; phần khác, đối với Lòng tin nói chung, đó không phải là một hòn đá hay một vật gì đấy v.v.. có sự tồn tại “tự mình”, trái lại, với Lòng tin, cái “tự-mình” chỉ duy nhất là cái Bản chất của tư tưởng thuần túy [được nắm bắt bởi tư duy thuần túy].

§ 554

 [2] Yếu tố thứ hai là mối quan hệ của Lòng tin như là [một hình thức của] ý thức nhận thức đối với Hữu thể-tuyệt đối này. Với tư cách là ý thức thuần túy đang tư duy, Lòng tin có Hữu thể này trực tiếp trước mặt mình. | Nhưng, ý thức thuần túy cũng đồng thời là quan hệ được trung giới [gián tiếp] của sự xác tín với chân lý, một quan hệ cấu tạo nên cơ sở [hay căn cứ] (Grund) của Lòng tin. Đối với sự Khai sáng, cơ sở này cũng được xem như là một cái biết bất tất về những sự kiện bất tất [ngẫu nhiên]. Tuy nhiên, cơ sở của cái biết là cái phổ biến được nhận thức (das wissende Allgemeine), và trong tính chân lý của nó là Tinh thần-tuyệt đối. | Tinh thần-tuyệt đối này, – ở trong ý thức thuần túy trừu tượng hay trong tư tưởng xét như tư tưởng – chỉ đơn thuần là cái Hữu thể-tuyệt đối, nhưng với tư cách là Tự-ý thức thì lại là cái biết về chính mình (Wissen von sich). Sự Thức nhận thuần túy thiết định [xem] cái phổ biến được nhận thức này, [tức] Tinh thần tự-nhận thức đơn giản [và thuần túy] này cũng tương tự như thiết định cái [yếu tố] phủ định của Tự-ý thức. Tuy rằng bản thân sự thức nhận này là tư tưởng thuần túy được trung giới, nghĩa là, tư tưởng trung giới chính mình với chính mình, nó là cái biết thuần túy; nhưng vì lẽ nó là sự Thức nhận thuần túy, hay cái biết thuần túy, là cái chưa có cái biết về chính mình, tức là, đối với nó, chưa có được ý thức rằng nó chính là tiến trình thuần túy của sự trung giới, nên tiến trình trung giới này có vẻ xuất hiện ra cho sự Thức nhận, – giống như tất cả những gì vốn bản thân [mang tính chất] là sự Thức nhận – như là một cái khác nó [xa lạ, ở bên ngoài nó]. Song, khi hiện thực hóa được Khái niệm [nguyên tắc] của mình, sự Thức nhận phát triển được yếu tố bản chất này của mình, nhưng yếu tố ấy lại xuất hiện ra cho nó có vẻ như thuộc về Lòng tin và – với tính chất của một cái khác ở bên ngoài sự Thức nhận thuần túy – yếu tố ấy xuất hiện như là cái biết ngẫu nhiên của những câu chuyện kể về những sự kiện lịch sử “có thật” theo nghĩa thông thường của chữ “có thật”. Vậy là ở đây, nó lại quay sang chê trách Lòng tin tôn giáo là đặt sự xác tín của mình trên cơ sở một số “chứng từ” lịch sử cá biệt nào đó, và, vì là những “chứng từ” lịch sử, nên chắc chắn không thể nào đảm bảo được độ chính xác về nội dung sự việc, giống như ta xem bất kỳ sự cố nào được tường thuật trên báo chí. | Thêm nữa, nó lại đổ lỗi rằng sự xác tín trong Lòng tin tôn giáo còn tùy thuộc vào yếu tố ngẫu nhiên là sự lưu trữ những chứng từ ấy: một phần là sự lưu trữ bằng vật liệu bằng giấy, phần khác là tùy vào tài nghệ và sự trung thực trong việc sao chép để lưu truyền văn bản, và sau cùng, là tùy thuộc vào việc có hiểu đúng ý nghĩa của những từ và những lời của tử ngữ ấy không. Thế nhưng, trong thực tế, Lòng tin [tôn giáo] không bao giờ ràng buộc sự xác tín của mình với những chứng từ và những tình huống ngẫu nhiên như thế. | Trong sự xác tín của mình, Lòng tin giữ một quan hệ hồn nhiên đối với đối tượng tuyệt đối của mình, là một cái biết thuần túy [trong sáng] không bao giờ trộn lẫn với văn tự, văn bản và bản sao trong ý thức của mình về Hữu thể-tuyệt đối và không thông qua trung gian của những sự vật thuộc loại ấy. Trái lại, ý thức này là cơ sở tự-trung giới [tự-liên hệ] cho cái biết của mình; nó là bản thân Tinh thần tự “làm chứng” cho mình trong nội tâm của từng ý thức cá nhân cũng như thông qua sự hiện diện phổ biến [rộng khắp] của Lòng tin của mọi người vào đó. Nếu Lòng tin cần viện dẫn đến những sự kiện lịch sử để đặt được cơ sở kiểu ấy hay ít nhất để được xác nhận về nội dung mà sự Khai sáng đề cập, và thật sự nghiêm chỉnh khi suy nghĩ và hành động như thể đó là một công việc hệ trọng, thì như thế, trong thực tế, nó đã để cho sự Khai sáng quyến dụ; và những nỗ lực của Lòng tin nhằm đặt cơ sở hay nhằm cũng cố chính mình bằng cách như thế chỉ là những bằng chứng cho thấy nó đã bị sự Khai sáng [tác động và] lây nhiễm[24].

§ 555

 [3] Còn sót lại phương diện thứ ba cần xét tới, đó là quan hệ của ý thức đối với Hữu thể-tuyệt đối như là một việc làm [phục vụ, thờ cúng]. Việc làm này là sự thủ tiêu (Aufheben) tính đặc thù của cá nhân, hay là thủ tiêu hình thức tự nhiên của sự tồn tại-cho-mình của cá nhân, từ đó làm nảy sinh cho cá nhân sự xác tín về sự tồn tại như là Tự-ý thức thuần túy; sự tồn tại – tương ứng với việc làm của mình, – như là ý thức cá nhân tồn tại-cho-mình [độc lập, tách rời] – trở thành một với Hữu thể-tuyệt đối.

Vì lẽ trong việc làm, tính hợp mục đích (Zweckmässig-keit) và mục đích (Zweck) phân biệt với nhau, và sự Thức nhận thuần túy, trong quan hệ với việc làm này, cũng giữ thái độ phủ định, và tự chối bỏ mình giống như nó đã làm trong những yếu tố khác, nên, đối với tính hợp mục đích, nó phải tự thể hiện ra như là sự ngu xuẩn, thiếu sáng suốt, bởi sự Thức nhận – hợp nhất với ý đồ, tức với sự tương ứng giữa mục đích và phương tiện – xuất hiện ra như cái khác, hay đúng hơn, như cái đối lập của cái gì đúng là sự Thức nhận. | Còn đối với mục đích, nó phải lấy cái xấu, sự hưởng thụ và sở hữu làm mục đích, và qua đó, chứng tỏ chính mình là loại ý đồ không trong sạch nhất, bởi ý đồ trong sạch, với tư cách là cái khác, cũng là ý đồ không trong sạch.

§ 556

Theo đó, ta thấy rằng, đối với tính hợp mục đích, sự Khai sáng cho là khờ khạo khi cá nhân có lòng tin tìm cách đạt được ý thức cao hơn về tự do, thoát khỏi sự ràng buộc của hưởng thụ và khoái lạc bằng cách từ bỏ trong hiện thực sự hưởng thụ tự nhiên và khoái lạc, và bằng việc làm [tu trì] chứng tỏ rằng ở đây không có sự dối trá trong việc khinh bỉ chúng, trái lại, sự khinh bỉ là đúng thật. Cũng thế, sự Khai sáng cho là khờ khạo khi cá nhân muốn đạt được phẩm cách của mình như là cá nhân tồn tại một cách tuyệt đối cá biệt, loại trừ mọi người khác và chiếm hữu chính mình bằng cách tự từ bỏ tư hữu của mình, vì qua đó, trong sự thật, cá nhân chứng tỏ rằng sự cô lập của mình là không thực sự nghiêm chỉnh, mà đúng hơn, tự cho mình là cái gì có thể đứng lên trên sự tất yếu tự nhiên về việc cá thể hóa và, trong việc cô lập tuyệt đối của cái cá nhân tồn tại-cho-mình này, phủ nhận việc những cá nhân khác cũng là một và cũng như là chính mình.

Sự Thức nhận thuần túy thấy rằng cả hai điều nói trên vừa không hợp mục đích, vừa sai lầm. | Nó là “không hợp mục đích” [vô mục đích] khi từ bỏ khoái lạc và sở hữu nhằm chứng tỏ rằng mình độc lập với khoái lạc và sở hữu, bởi nếu vậy, trong trường hợp ngược lại, ắt phải bảo kẻ nào muốn ăn và dùng phương tiện để thực sự ăn là một kẻ điên. Nó cũng thấy là sai lầm [về ý nghĩa luân lý] khi từ chối bữa ăn và trao bơ và trứng không phải để lấy tiền, cũng không trao tiền để lấy bơ và trứng mà chỉ đơn thuần vứt bỏ chúng và không nhận lại gì cả; như thế, là đã xem bữa ăn hay sự sở hữu những vật ấy là một mục đích tự thân, và vậy là, trong thực tế, cho thấy chính mình là ý đồ rất không trong sạch bởi đã gán giá trị bản chất cho việc thụ hưởng và sở hữu những sản vật thuộc loại [không bản chất] ấy. Với tư cách là ý đồ trong sạch, nó vẫn tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải nâng mình lên khỏi sự tồn tại tự nhiên, lên trên sự thèm muốn những phương tiện cho sự tồn tại như thế, nhưng nó chỉ thấy là khờ khạo và sai lầm khi sự nâng mình lên [trong nội tâm] này phải được chứng minh bằng việc làm. | Nói cách khác, ý đồ trong sạch này, trong thực tế, là sự lừa mị, vì nó giả vờ và đòi hỏi một sự nâng cao tâm hồn, nhưng lại cho thấy là thừa thãi, khờ khạo và cả sai lầm nữa khi biến thành việc làm thực sự, nghiêm chỉnh và muốn chứng minh sự thật của mình [biến những mục đích hữu hạn thành những mục đích duy nhất của hành động].

Vậy, sự Thức nhận thuần túy tự phủ nhận chính mình với cả hai tư cách: với tư cách là sự Thức nhận thuần túy, vì nó phủ nhận việc làm hợp mục đích một cách trực tiếp; và với tư cách là ý đồ trong sạch, vì nó phủ nhận ý đồ muốn chứng minh rằng nó [có thể] tồn tại độc lập mà không cần có những mục đích của sự tồn tại cá thể.

§ 557

Trở lên là cách thức sự Khai sáng để cho Lòng tin hiểu về nó. Sở dĩ sự Khai sáng xuất hiện ra trong vẻ ngoài xấu xa ấy, bởi chỉ khi quan hệ với một cái khác nó, nó mới mang lại cho mình tính thực tại phủ định, hay nói khác đi, nó thể hiện chính mình như là cái đối lập với chính mình. | Vả lại, sự Thức nhận thuần túy và ý đồ phải chọn [thái độ] quan hệ này vì đó chính là sự hiện thực hóa của chúng [để chúng có thể trở thành hiện thực].

 [Như đã thấy], sự hiện thực hóa này, thoạt đầu, đã xuất hiện ra như một thực tại phủ định [chối bỏ tiêu cực]. Vậy, thực tại khẳng định [tích cực] của nó có lẽ sẽ có tính chất tốt hơn. | Ta hãy thử xem tình hình thế nào. [Bây giờ], giả thử mọi tiên kiến và mê tín đều được xóa bỏ, câu hỏi sẽ nảy sinh là: rồi sao nữa đây? Sự Khai sáng đã truyền bá chân lý nào thay thế cho chúng? [Thật ra], sự Khai sáng đã phát biểu nội dung tích cực, khẳng định của mình ngay trong quá trình tiêu trừ sai lầm, bởi sự tha hóa ấy của chính nó cũng đồng thời là thực tại tích cực, khẳng định của nó.

Khi bàn về cái mà đối với Lòng tin là Tinh thần-tuyệt đối, sự Khai sáng hiểu bất kỳ đặc điểm nào nó phát hiện ra ở đó, chẳng hạn [ngẫu tượng bằng] gỗ, đá v.v.. như là những sự vật hiện thực, riêng lẻ, [cảm tính]. | Vì lẽ, bằng cách ấy, nó quan niệm mọi đặc điểm nói chung, tức mọi nội dung được lấp đầy [trong Tinh thần-tuyệt đối/Hữu thể-tuyệt đối] là một [sự kiện mang] tính hữu hạn, là một bản chất của con người, một biểu tượng của đầu óc, nên, đối với nó, Hữu thể-tuyệt đối trở thành một chân không (ein Vakuum) đơn thuần, không thể được gán cho bất kỳ đặc điểm, thuộc tính nào cả. Một sự gán ghép [tùy tiện] như vậy tự nó là đáng trách, và chính trong việc làm ấy đã khiến tạo ra bao nhiêu sản phẩm quái đản của sự mê tín. Lý tính, sự thức nhận thuần túy hẳn nhiên bản thân không phải là trống rỗng vì lý do cái phủ định của chính nó là tồn tại [một cách có ý thức] cho-nó và là nội dung của nó; trái lại, là rất phong phú, nhưng chỉ phong phú trong tính cá biệt và trong những [hình thức bị] giới hạn mà thôi. | Phong thái khai sáng của lý tính và của sự Thức nhận thuần túy là ở chỗ không cho phép bất kỳ thứ gì thuộc loại bị giới hạn ấy thuộc về Hữu thể-tuyệt đối cũng như được gán ghép vào cho Hữu thể tuyệt đối như là những thuộc tính: phong thái ấy biết phải đặt bản thân mình và sự phong phú của tính hữu hạn vào đúng chỗ của chúng, và [như thế là] biết đối xử với cái Tuyệt đối một cách trọng thị[25].

§ 558

Đối lập lại với cái Hữu thể trống rỗng ấy là phương diện thứ hai của chân lý tích cực [khẳng định] của sự Khai sáng, đó là: tính cá biệt nói chung của ý thức [của đời sống có ý thức] và của toàn bộ những gì là tồn tại, một tính cá biệt đã thoát ly [đã bị loại trừ] ra khỏi một Hữu thể-tuyệt đối, và mang hình thức của một sự tồn tại tự-mình và cho-mình tuyệt đối. Ý thức, - trong tính hiện thực [biểu hiện] sơ khởi nhất của nó là sự xác tín cảm tính và tư kiến đơn thuần [sự “cho rằng”: das Meinen, xem: Chương I] – sau toàn bộ quá trình kinh nghiệm, đã quay trở về lại với hình thức này, và cũng lại là một cái biết về cái phủ định một cách thuần túy của chính nó [cái biết], hay một cái biết về những sự vật cảm tính, tức là, về những gì đơn thuần hiện hữu (seiend), đứng đối lập dửng dưng với cái tồn tại-cho-mình của nó. Thế nhưng, ở đây, ý thức ấy không phải là ý thức tự nhiên, trực tiếp nữa, mà là ý thức đã trở thành ý thức cho chính mình [một ý thức đã phát triển]. Thoạt đầu, bị bỏ mặc và bị cuốn hút vào mọi cuộc phiêu lưu để tự phát triển mình, ý thức bây giờ – nhờ thông qua sự Thức nhận thuần túy – đã được đưa trở về lại với hình thái đầu tiên của nó, và đã trải nghiệm việc được đưa trở lại hình thái đầu tiên này như là kết quả (Resultat) của cả quá trình. Sự xác tín cảm tính này – dựa trên sự thức nhận về tính hư vô, phủ định (Nichtigkeit) của mọi hình thái khác của ý thức, và do đó dựa trên việc xem mọi cái gì ở phía bên kia của sự xác tín cảm tính đều là hư vô [không đúng thật], nên nó không còn là tư kiến [sự “cho rằng”] đơn thuần nữa, mà đúng hơn, [tự cho mình] là chân lý tuyệt đối. Tính hư vô của tất cả những gì vượt ra khỏi sự xác tín cảm tính [kinh nghiệm cảm tính] tuy chỉ là một bằng chứng tiêu cực về chân lý này, nhưng nó không thể chấp nhận cũng như không thể có một bằng chứng hay sự chứng minh nào khác. | Bởi vì, chân lý tích cực [khẳng định] của sự xác tín cảm tính tự nó chính là sự tồn tại-cho-mình [trực tiếp] không [cần] được trung giới (unvermittelt) của bản thân Khái niệm với tư cách là đối tượng [khách quan] và là một đối tượng trong hình thức của cái tồn tại-khác; chân lý tích cực là ở chỗ khẳng định rằng: điều tuyệt đối xác tín [chắc chắn] đối với bất kỳ ý thức nào, đó là: ý thức tồn tại; và có những sự vật hiện thực tồn tại ở bên ngoài ý thức; và rằng: trong sự tồn tại tự nhiên của ý thức, ý thức cũng như những sự vật này đều là tồn tại tự-mình và cho-mình, hay nói cách khác, đều là tuyệt đối.

§ 559

Sau cùng, yếu tố thứ ba của chân lý của sự Khai sáng là mối quan hệ của những tồn tại cá biệt đối với Hữu thể-tuyệt đối, [tức] mối quan hệ của hai yếu tố đầu tiên với nhau. Sự Thức nhận, với tư cách là sự Thức nhận thuần túy về cái gì đồng nhất và không bị giới hạn cũng vượt ra ngoài cái không đồng nhất [cái đa tạp], tức là, vượt ra ngoài hiện thực hữu hạn, hay, vượt ra khỏi bản thân nó với tư cách là cái tồn tại-khác đơn thuần. Nó lấy cái “ở bên kia” của cái tồn tại-khác này làm cái trống rỗng[26], do đó, nó liên hệ hiện thực cảm tính [những sự kiện cảm tính] với cái trống rỗng này. Trong việc xác định mối quan hệ này, cả hai phía đều không đi vào mối quan hệ như là nội dung, bởi một phía là cái trống rỗng, và do đó, một nội dung chỉ có thể có là thông qua cái khác, tức thông qua hiện thực cảm tính. Tuy nhiên, hình thức của mối quan hệ, – phương diện của cái [nội dung] tự-mình (das Ansich) góp phần vào việc xác định hình thức này – có thể mang hình thái nào tùy thích, bởi hình thức là cái gì có tính phủ định tự-mình, và vì thế, là cái tự-đối lập với chính nó, là cái có thể tồn tại cũng như không-tồn tại, có thể là cái tự-mình (Ansich) cũng như có thể là cái đối lập; hay cùng một cách nói đồng nghĩa như thế, mối quan hệ của hiện thực với cái tự-mình như là cái “ở bên kia” vừa là một sự phủ định (ein Negieren), vừa là một sự thiết định (ein Setzen) hiện thực ấy. Cho nên, nói đúng ra, [những] hiện thực hữu hạn có thể được nắm lấy ngay trong phương cách người ta cần đến chúng. Như vậy, cái cảm tính [những sự vật hiện thực] nay được quan hệ một cách tích cực [được khẳng định, được thiết định] với cái tuyệt đối như là với cái tự mình (Ansich) và hiện thực cảm tính bản thân cũng là tự-mình [được khẳng định như là tồn tại độc lập]; nó được cái tuyệt đối tạo ra, chăm chút và săn sóc. Nhưng rồi, nó lại quan hệ với cái tuyệt đối như là với một cái đối lập, như là với sự không-tồn tại của chính mình; và xét theo mối quan hệ này, nó không phải là tự-mình nữa, mà chỉ là tồn tại cho-một-cái khác (für ein anderes). Trong khi ở hình thái trước đây của ý thức, những Khái niệm [đi vào] trong sự đối lập nhau đã mang hình thái như [sự đối lập giữa] cái Tốt và cái Xấu, thì, trong sự Thức nhận thuần túy [hiện nay], chúng chuyển hóa thành những hình thức trừu tượng hơn của cái tồn tại tự-mình (an sich Sein) và cái tồn tại cho-một-cái khác (für ein anderes Sein)[27].

§ 560

Nhưng, trong thực tế, cả hai cách xem xét, tức xem xét mối quan hệ khẳng định lẫn phủ định của cái hữu hạn với cái tự-mình (das Ansich) đều là thiết yếu như nhau, và như vậy, mọi sự vật đều là tự-mình, đồng thời là cho-một-cái khác: nói khác đi, mọi vật đều là “có ích” (nützlich).

Mọi sự vật bây giờ đều phó mặc mình cho những sự vật khác, để cho những cái khác sử dụng và tồn tại cho những cái khác, rồi đến lượt mình, lại tự đứng trên đôi chân của mình, nếu có thể nói như thế, cũng như hành xử thô bạo với cái khác, tồn tại cho bản thân mình và lại sử dụng cái khác[28].

Kết quả là, con người, [xét] như là “sự vật” có ý thức về mối quan hệ này, rút ra từ đó bản chất và chỗ đứng của mình[29]. Khi tồn tại một cách trực tiếp, con người là tốt với tư cách là ý thức tự nhiên tự-mình; là tuyệt đối với tư cách là cá nhân riêng lẻ, và mọi cái khác là tồn tại cho con người. | Thêm nữa, vì lẽ những yếu tố ấy đều có ý nghĩa của tính phổ biến cho con người với tư cách là sinh vật có ý thức về mình, nên mọi vật đều tồn tại để làm cho con người sung sướng và hài lòng; và, khi lần đầu tiên rời khỏi bàn tay của Thượng đế, con người ngao du trên mặt đất như trong một ngôi vườn được vun trồng dành sẵn cho mình. Rồi con người cũng đã phải hái quả từ cây tri thức về điều Thiện và điều Ác [xem: Kinh Thánh, Moses 2,8]; con người tìm được nơi đây một điều hữu ích để được phân biệt với mọi tồn tại khác, bởi vì, một cách ngẫu nhiên, “tính bản thiện” tự-mình của con người có đặc điểm cấu tạo là sẽ bị tổn hại bởi sự sung sướng quá mức độ; hay nói đúng hơn, tính cá biệt, đơn lẻ của con người chứa đựng một nguyên lý cấu tạo là luôn có “cái bên ngoài” của nó ở ngay trong lòng nó; tính cá biệt ấy có thể vươn ra khỏi chính mình và hủy diệt chính mình. Để ngăn chặn điều ấy, con người tìm thấy nơi lý tính một phương tiện có ích để giới hạn và thuần phục sự vươn ra khỏi chính mình này, hay đúng hơn, để bảo tồn chính mình khi con người đi ra bên ngoài cái được hạn định, bởi đó chính là sức mạnh của ý thức. Bản thân sự hưởng thụ của hữu thể có ý thức và có tính phổ biến tự-mình này – để được đa dạng và lâu dài – cũng phải có tính phổ biến chứ không phải là cái gì nhất định [hạn hẹp]. | Do đó, nguyên tắc điều độ (Mass) có [chức năng] quy định là ngăn cản không để cho sự sung sướng khoái hoạt – trong tính phong phú đa dạng và lâu bền của nó – bị cắt đứt đột ngột; nghĩa là: chức năng quy định [điều tiết] sự điều độ chính là sự vô độ[30]

Giống như mọi sự vật là có ích cho con người, con người cũng có ích tương tự như vậy; và đặc điểm quy định của con người là ở chỗ làm cho mình trở thành một thành viên của cộng đồng người, một thành viên vì lợi ích chung đồng thời cũng là hữu dụng cho tất cả. Vì lợi ích riêng bao nhiêu thì con người cũng phải vì lợi ích cho những người khác bấy nhiêu; và phục vụ cho người khác bao nhiêu cũng là vì mình bấy nhiêu: bàn tay này rửa bàn tay kia. Con người đang ở chỗ nào là đang ở đúng chỗ của mình ở đấy: hưởng lợi từ người khác và được người khác hưởng lợi từ mình[31]

§ 561

Những sự vật khác nhau cũng có ích cho nhau bằng nhiều cách. | Nhưng, sở dĩ mọi sự vật có tính tương hỗ về lợi ích này là nhờ thông qua bản chất của chúng, tức nhờ có quan hệ hai mặt với cái Tuyệt đối: mặt khẳng định, qua đó chúng có được sự tồn tại tự-mình và cho-mình; mặt phủ định, qua đó trở thành sự tồn tại cho-cái-khác. Do đó, mối quan hệ với Hữu thể-tuyệt đối, hay nói khác đi, Tôn giáo là cái có lợi cao nhất trong mọi cái có lợi, bởi đây là bản thân sự ích lợi thuần túy; là [chỗ nhờ đó có] sự tự tồn lâu dài (Bestehen) của mọi sự vật, hay để chúng có sự tồn tại tự-mình và cho-mình và cũng là [chỗ bởi đó có] sự sụp đổ (Fallen) của mọi sự vật hay để chúng trở thành sự tồn tại-cho-cái-khác[32].

§ 562

Tất nhiên, Lòng tin nhìn kết quả khẳng định [tích cực] này của sự Khai sáng với sự kinh tởm, căm ghét không kém gì khi nhìn thái độ phủ định của nó chống lại Lòng tin. Đối với Lòng tin, sự Thức nhận [Khai sáng] này nhìn vào Hữu thể-tuyệt đối mà không thấy gì khác hơn là một “Hữu thể-tuyệt đối”, là một cái “Être suprême” [nguyên văn bằng tiếng Pháp: “Hữu thể tối cao”, thuật ngữ của Descartes biểu thị “Thượng đế của triết gia”. N.D] hay cái Trống rỗng; cũng như ý đồ nhìn mọi sự vật trong sự tồn tại trực tiếp của chúng là “tự-mình”, là “tốt”, và sau cùng, thấy rằng mối quan hệ của tồn tại cá nhân có ý thức với Hữu thể-tuyệt đối, với tôn giáo rút cục được diễn tả trọn vẹn bằng Khái niệm về tính hữu ích (Begriff der Nützlichkeit), tất cả những điều ấy quả là [sự báng bổ] đáng ghê tởm[33]. Đối với Lòng tin, sự khôn ngoan đặc biệt và đặc trưng này của sự Khai sáng đồng thời cũng là biểu hiện tất yếu của bản thân sự nông cạn và là sự thú nhận về sự nông cạn, bởi nó tựu trung là sự không biết gì cả về Hữu thể-tuyệt đối, hay cũng đồng nghĩa như thế, chỉ biết điều hoàn toàn nông cạn về Hữu thể này, tức chỉ biết rằng đó là Hữu thể-tuyệt đối đơn thuần thôi, còn ngoài ra, chỉ biết về cái hữu tận, xem cái hữu tận là chân lý và nghĩ rằng sự hiểu biết về cái hữu tận như là sự hiểu biết về chân lý là sự hiểu biết tối cao [mà con người có thể đạt đến được].

§ 563

[III. Quyền hay cái Lý của sự Khai sáng:]

Lòng tin có quyền [hay có cái lý] (Recht) thiêng liêng để chống lại sự Khai sáng, đó là cái lý của tính tự-đồng nhất tuyệt đối hay là của tư tưởng thuần túy; và thấy sự Khai sáng rõ ràng là vô lý [sai lầm] (Unrecht), vì nó đã xuyên tạc mọi yếu tố của Lòng tin, biến chúng thành những cái gì khác hẳn so với khi chúng ở trong Lòng tin. Thế nhưng ngược lại, sự Khai sáng cũng đơn thuần có quyền [hay có cái lý] của con người khi chống lại Lòng tin, và đấu tranh cho chân lý của chính mình, vì cái vô lý [sai lầm] mà nó phạm phải lại là cái lý của sự không-đồng nhất, của sự đảo ngược và biến đổi, một cái lý thuộc về bản tính tự nhiên (Natur) của Tự-ý thức đối lập lại cái bản chất đơn giản, hay là đối lập lại tư tưởng. Song, vì cái lý của sự Khai sáng là lý của Tự-ý thức, nó cũng sẽ không chịu đơn thuần rút lại cái lý của mình, khiến cho hai cái lý đều có giá trị như nhau của Tinh thần sẽ vẫn đứng đối lập lại với nhau, không bên nào chịu thỏa mãn yêu sách của bên nào; trái lại, sự Khai sáng sẽ vẫn giữ vững cái lý [hay quyền] tuyệt đối của mình, bởi Tự-ý thức là [chức năng mang] tính phủ định của Khái niệm, một chức năng không chỉ vận hành độc lập “cho-mình” mà còn nắm quyền kiểm soát cả cái đối lập với nó. | Và, bởi bản thân Lòng tin cũng là [một thể cách của] ý thức, nên nó vẫn sẽ không thể bác khước cái lý [hay cái quyền] này của sự Khai sáng.

§ 564

[a) Sự tự-vận động của tư tưởng:]

Bởi vì [thật ra], sự Khai sáng không tiến hành việc chống lại Lòng tin bằng những nguyên tắc của riêng mình, trái lại, bằng những nguyên tắc vốn có sẵn [mặc nhiên] trong bản thân Lòng tin. Sự Khai sáng chỉ tập hợp lại những tư tưởng của chính Lòng tin, những tư tưởng ấy vốn nằm phân tán, bị tách rời ngay bên trong Lòng tin nên không được Lòng tin biết đến. | Sự Khai sáng chỉ đơn thuần gợi cho Lòng tin nhớ rằng: khi một hình thức của nó hiện diện thì nó cũng còn có những hình thức khác nữa, chỉ có điều nó luôn quên những hình thức này mỗi khi có sự hiện diện của một hình thức nhất định. Sự Khai sáng tự chứng tỏ với Lòng tin rằng mình là sự Thức nhận thuần túy ở chỗ luôn nhìn thấy cái toàn bộ ở nơi một yếu tố nhất định được mang lại, do đó, luôn mang lại cái đối lập và đặt cái đối lập này vào trong quan hệ với yếu tố nhất định kia, đảo ngược yếu tố này thành yếu tố nọ, thúc đẩy sự hình thành của nguyên tắc phủ định vốn là cái bản chất của cả hai tư tưởng: đó chính là Khái niệm (Begriff). Vì thế, sự Khai sáng xuất hiện ra trước Lòng tin như là sự xuyên tạc và dối trá, bởi nó vạch trần cái tồn tại-khác [phương diện khác] trong những yếu tố của Lòng tin. | Kết quả là: sự Khai sáng có vẻ như đã trực tiếp biến những yếu tố ấy thành những gì khác với chúng khi chúng tồn tại riêng lẻ, nhưng cái khác này cũng có tính thiết yếu, bản chất giống như thế, và, trong sự thật, vốn đã có sẵn trong bản thân Lòng tin, chỉ có điều, ý thức có lòng tin này không suy nghĩ về nó, tưởng nó là ở nơi xa lạ nào khác. | Cho nên, cái khác này vừa không xa lạ với Lòng tin, vừa không thể bị Lòng tin chối bỏ được.

§ 565

Thế nhưng, sự Khai sáng, khi gợi cho Lòng tin nhớ đến cái đối lập của những yếu tố bị tách rời của nó, thì bản thân cũng chẳng được “khai sáng” gì hơn về chính mình. Sự Khai sáng hành xử thuần túy phủ định chống lại Lòng tin, trong chừng mực nó loại trừ chính nội dung của mình ra khỏi tính [hoạt động] thuần túy của mình và nắm lấy nội dung ấy làm cái phủ định của chính mình. Vì thế, nó vừa không nhận ra chính mình trong cái phủ định này – tức trong nội dung của lòng tin –, vừa, vì lý do đó, không tập hợp được hai tư tưởng lại làm một, tức một bên, là tư tưởng do nó mang lại, và bên kia, là tư tưởng mà nó chống lại bằng tư tưởng trước. Vì nó không nhận ra rằng những gì nó lên án ở trong Lòng tin cũng trực tiếp là những tư tưởng của chính nó, nên nó tồn tại ngay trong sự đối lập của hai yếu tố, trong đó nó chỉ thừa nhận một yếu tố thôi, – yếu tố đối lập lại với Lòng tin –, nhưng lại tách rời yếu tố còn lại với yếu tố này, giống hệt như cách làm của Lòng tin. Do vậy, sự Khai sáng không tạo ra được sự thống nhất của cả hai như là nhất thể của chúng, nghĩa là không tạo ra được Khái niệm; trái lại, Khái niệm ra đời (entsteht) trước mặt nó một cách độc lập, “cho-mình”, hay nói khác đi, sự Khai sáng chỉ tìm thấy Khái niệm như cái gì có sẵn đấy. [Điều này không gì lạ] vì về mặt tự-mình, việc hiện thực hóa của sự Thức nhận thuần túy chính là ở chỗ: sự Thức nhận – mà bản chất của nó là Khái niệm – thoạt đầu hình thành [trong hình thái của] một cái khác tuyệt đối đối với bản thân nó và tự chối bỏ chính mình, vì cái đối lập của Khái niệm là cái đối lập tuyệt đối, rồi sau đó mới từ cái tồn tại-khác ấy đi đến với chính mình, hay nói cách khác, đi đến Khái niệm.

Vậy, sự Khai sáng chỉ đơn thuần là tiến trình vận động này; nó là hoạt động còn [ở giai đoạn] vô-ý thức của Khái niệm thuần túy; một hoạt động tuy đi đến chính mình với tư cách là đối tượng nhưng vẫn còn nắm lấy đối tượng này như một cái khác, và không nhận biết bản tính tự nhiên của Khái niệm, nghĩa là, không biết rằng nó là cái bất phân biệt, tự phân chia chính mình một cách tuyệt đối[34]. Như thế, khi chống lại Lòng tin, sự Thức nhận chính là sức mạnh của Khái niệm, trong chừng mực nó là tiến trình vận động và làm cho những yếu tố nằm tách rời trong Lòng tin quan hệ lại với nhau, một sự quan hệ (Beziehen) làm cho sự mâu thuẫn bên trong những yếu tố ấy bộc lộ ra. Chính việc làm này là quyền thực hiện sức mạnh của sự Thức nhận đối với Lòng tin; nhưng [chất liệu] hiện thực để sự Thức nhận dùng sức mạnh của mình tác động vào lại chính là ở chỗ: bản thân ý thức của Lòng tin cũng là Khái niệm, và do đó, bản thân nó cũng thừa nhận cái đối lập do sự Thức nhận mang lại cho nó. Sở dĩ sự Thức nhận [sự Khai sáng] giữ vững quyền [hay cái lý] ấy để chống lại Lòng tin là do nó [muốn] khẳng định giá trị hiệu lực ở ngay trong Lòng tin về những gì là thiết yếu (notwendig: tất yếu và cần thiết) cho bản thân Lòng tin và về những gì Lòng tin vốn hàm chứa sẵn trong chính mình.

§ 566

[b) Phê phán các lập trường của Lòng tin:]

Trước tiên, sự Khai sáng nhấn mạnh đến yếu tố Khái niệm và cho rằng đó là một hành vi của ý thức; nó khẳng định trước Lòng tin rằng: Hữu thể-tuyệt đối của Lòng tin [thực chất] là một Hữu thể của ý thức của Lòng tin như là của một Tự ngã [có ý thức], hay nói cách khác, Hữu thể ấy là do ý thức tạo ra. Đối với ý thức của Lòng tin, Hữu thể-tuyệt đối – trong khi tồn tại như thể là cái tự mình [tồn tại khách quan] – thật ra cũng không tồn tại như một sự vật xa lạ mà không ai rõ từ đâu và bằng cách nào lại đến được với Lòng tin. | Trái lại, “lòng tin cậy” [hay “tin tưởng”][35] chính là ở chỗ tìm thấy chính mình như là một ý thức cá nhân riêng lẻ [được nằm] ở bên trong Hữu thể-tuyệt đối; và sự tuân phục cũng như sự phụng hiến của Lòng tin là ở chỗ tạo ra Hữu thể-tuyệt đối ấy như là Hữu thể tuyệt đối của riêng mình thông qua việc làm [sùng bái] của mình. Nên nói đúng ra, sự Khai sáng chỉ nhắc nhở Lòng tin về điều này, khi Lòng tin khẳng định một cách đơn giản [thiếu cơ sở] rằng cái tự-mình (das Ansich) của Hữu thể-tuyệt đối là cái gì nằm ở phía bên kia việc làm của ý thức [không do ý thức tạo ra].

Nhưng, vì lẽ khi phản đối lại tính phiến diện của Lòng tin, sự Khai sáng quả đã lưu ý [Lòng tin về] yếu tố đối lập, tức yếu tố việc làm trái ngược lại với yếu tố tồn tại – ở đây, mọi Lòng tin đều chỉ mới nghĩ đến [mặt] tồn tại [của Hữu thể tuyệt đối] thôi –, song, khi làm như thế, vẫn chưa hợp nhất những tư tưởng đối lập ấy lại với nhau, nên sự Khai sáng cô lập yếu tố thuần túy của việc làm và tuyên bố rằng: điều được Lòng tin nắm lấy như là cái tồn tại tự-mình (Ansich) chỉ đơn thuần là một sản phẩm [của việc làm] của ý thức[36]. Tuy nhiên, việc làm bị cô lập hóa, việc làm được xét như đối lập lại với cái tồn tại tự-mình (Ansich) này, thì chỉ là một việc làm ngẫu nhiên, bất tất, và, với tư cách là một việc làm của việc hình dung bằng biểu tượng, chỉ là một sự sản sinh ra những sản phẩm tưởng tượng (Fiktionen), mà những sản phẩm tưởng tượng – tức những biểu tượng (Vorstellungen) [tư tưởng mang tính hình tượng] – ắt không thể có sự tồn tại tự-mình được. | Và đó chính là cách nhìn của sự Khai sáng về nội dung của Lòng tin.

Tuy nhiên, sự Thức nhận thuần túy cũng sẵn sàng nói điều trái ngược lại. Khi sự Thức nhận này còn duy trì yếu tố của sự “tồn tại-khác” nằm ngay bên trong Khái niệm, thì [trong thực tế] nó phát biểu về cái Hữu thể [tuyệt đối] của Lòng tin như thể về một cái gì không hề liên quan đến ý thức, nằm bên ngoài ý thức, xa lạ với ý thức và, do đó, không [thể] nhận thức được. Tình hình cũng tương tự như thế ở nơi Lòng tin. | Một mặt, Lòng tin đặt trọn niềm tin tưởng (Vertrauen) vào Hữu thể tuyệt đối, và khi làm như vậy, có được sự xác tín về chính mình, nhưng mặt khác, [xem] mọi con đường dẫn đến Hữu thể ấy là không thể dò tìm được, còn sự tồn tại của Hữu thể ấy thì không thể nào vươn đến nỗi[37].

§ 567

Thêm nữa, sự Khai sáng giữ vững cái lý của mình trước Lòng tin, – và cũng được Lòng tin thừa nhận –, khi nó xem đối tượng được Lòng tin sùng bái chỉ như là hòn đá, khúc gỗ, hay, nói ngắn, như bất kỳ một cái hữu tận nào khác mang tính nhân hình [hóa] (anthropomorphisch). Bởi lẽ, ý thức này [của Lòng tin] là ý thức bị phân đôi trong bản thân nó: vừa có một “cái bên kia” xa cách hiện thực, vừa có một [sự hiện thân nơi] “cái bên này” [trực tiếp, hiện thực] của “cái bên kia” ấy, cho nên, trong ý thức ấy, thực tế vẫn có một cách nhìn rằng những sự vật cảm tính, hữu tận cũng có giá trị tự-mình và cho-mình. | Nhưng, ý thức [Lòng tin] không hợp nhất được hai tư tưởng về cái gì là “tự-mình và cho-mình”, nghĩa là, không hợp nhất được cái khi thì “tự-mình và cho-mình” như là Hữu thể tuyệt đối của Lòng tin, khi khác lại là một sự vật cảm tính bình thường. Ngay chính ý thức thuần túy của bản thân Lòng tin cũng bị tác động bởi cách nhìn này, bởi lý do là: vì thiếu vắng Khái niệm nên những sự dị biệt của thế giới siêu-cảm tính của nó cũng là một chuỗi những hình thái độc lập, và sự vận động của những hình thái ấy là một sự kiện xảy ra ngẫu nhiên, nghĩa là, chúng chỉ đơn thuần tồn tại ở trong [sự hình dung thành] biểu tượng, và mang đặc điểm của sự tồn tại cảm tính [bất tất, hữu tận][38].

Về phía mình, sự Khai sáng cô lập hiện thực theo cách tương tự, xem nó như là một hiện thực đã bị Tinh thần rời bỏ [hiện thực không có Tinh thần], cô lập đặc điểm quy định của hiện thực thành một tính hữu tận cố định, không thể dịch chuyển, như thể tính hữu tận này không phải [chỉ] là một yếu tố trong [toàn bộ] tiến trình vận động mang tính Tinh thần của bản thân hiện thực, [nghĩa là] như một cái gì tuy không phải là hư vô, nhưng cũng không phải là cái gì có sự tồn tại tự-mình [tồn tại một cách tuyệt đối], mà là một cái gì [giả tạm, nhất thời] đang bị tiêu biến đi (ein verschwindendes Etwas)[39].

§ 568

Rõ ràng, tình hình cũng diễn ra tương tự như thế ngay nơi cơ sở của cái biết. Ý thức của Lòng tin cũng thừa nhận một cái biết bất tất, bởi ý thức ấy có một mối quan hệ với những sự vật bất tất, ngẫu nhiên; và bản thân Hữu thể-tuyệt đối cũng tồn tại cho Lòng tin trong hình thức của một hiện thực thông thường được hình dung bằng biểu tượng. | Do đó, Lòng tin cũng là một sự xác tín [nhưng] không có được chân lý ngay bên trong nó, và Lòng tin tự thú nhận mình là một loại ý thức không có tính bản chất (unwesentliches Bewusstsein), nằm ở phía “bên này”, cách biệt với Tinh thần vừa mang lại cho mình sự xác tín lẫn chân lý về chính mình[40]. Thế nhưng, Lòng tin quên mất yếu tố này trong cái biết trực tiếp của nó về Hữu thể-tuyệt đối.

Còn phía sự Khai sáng, khi nhắc nhở Lòng tin về tất cả những điều này, lại một lần nữa, chỉ nghĩ đến cái biết bất tất và quên đi cái khác, – tức chỉ suy tưởng về tiến trình trung giới diễn ra thông qua một cái [hạn từ] thứ ba xa lạ, chứ không suy tưởng về tiến trình trung giới, trong đó bản thân cái trực tiếp chính là cái hạn từ thứ ba, qua đó cái trực tiếp tự trung giới chính nó với cái khác, tức với bản thân [Tự ngã của] nó[41].

§ 569

Sau cùng là cái nhìn của sự Khai sáng về việc làm của Lòng tin, theo đó sự vứt bỏ hưởng thụ và tài sản là sai lầm và vô-mục đích.

Về điểm cho sự vứt bỏ này là sai lầm, sự Khai sáng nhất trí với Lòng tin ở chỗ: bản thân Lòng tin cũng thừa nhận hiện thực của việc sở hữu tài sản, gìn giữ và thụ hưởng nó. | Trong việc bảo vệ sở hữu, Lòng tin càng tỏ ra độc chiếm và ngoan cố hơn, cũng như trong việc hưởng thụ, càng tỏ ra ham hố hơn, bởi hành vi tôn giáo – từ bỏ sở hữu và hưởng thụ – là diễn ra bên ngoài lãnh vực hiện thực và được đánh đổi bằng sự tự do tha hồ trong lãnh vực này[42]. Chính do sự đối lập này mà sự phụng hiến – tức sự hy sinh những hoạt động và hưởng thụ tự nhiên – không có sự đúng thật trong thực tế. | Sự chiếm giữ và sự hy sinh cùng tồn tại bên nhau. | Sự hy sinh chỉ đơn thuần là một “dấu hiệu” [tượng trưng], thực hiện một phần nhỏ sự hy sinh thực sự và vì thế, trong thực tế, chỉ là một sự hy sinh trong tưởng tượng mà thôi.

§ 570

Về điểm cho là vô-mục đích, sự Khai sáng thấy rằng việc vứt bỏ một vật sở hữu để tự biết và để chứng tỏ được giải thoát khỏi mọi sự sở hữu; việc từ chối một sự hưởng thụ để tự biết và để chứng tỏ được thoát ly khỏi mọi sự hưởng thụ là việc làm không thích đáng. Bản thân ý thức của Lòng tin cũng hiểu hành vi tuyệt đối [phải] là một hành vi mang tính phổ biến. | Không chỉ hành động của Hữu thể-tuyệt đối – như của đối tượng của Lòng tin – mới xuất hiện ra cho Lòng tin như là một hành động phổ biến, mà cả ý thức cá nhân cũng phải tự chứng tỏ là thoát ly hoàn toàn và phổ biến khỏi bản chất cảm tính của mình[43]. Thế nhưng, vứt bỏ một vật sở hữu riêng lẻ, từ khước một sự hưởng thụ cá biệt không phải là hành vi có tính phổ biến như thế. | Và vì lẽ, trong hành động thì mục đích là mục đích phổ biến, nhưng thực hiện thì lại là tiến trình riêng lẻ, hành động ấy nhất thiết là không tương thích khi xuất hiện trước ý thức. | Nó tự cho thấy là một hành động trong đó không có phần đóng góp của ý thức, và cách hành động như thế quả là quá ngây thơ để được gọi là một hành động. | Thật quá ngây thơ khi nhịn ăn để chứng tỏ rằng mình được giải thoát khỏi lạc thú của việc ăn uống; thật quá ngây thơ khi tước bỏ những lạc thú khác ra khỏi thân xác – như Origines[44] chủ trương – nhằm chứng minh những khoái lạc thân xác đều đã bị xóa bỏ. Bản thân hành vi ấy chỉ chứng minh một động tác ngoại tại, cá biệt. | Còn sự ham muốn lại là cái bám rễ rất sâu ở đời sống bên trong, và là một yếu tố có tính phổ biến; [sự ham muốn] khoái lạc không biến mất cùng với [sự biến mất của] dụng cụ [phương tiện] để đạt được khoái lạc, cũng như thông qua việc thiếu vắng những khoái lạc cá biệt.

§ 571

Nhưng ở đây, về phía mình, sự Khai sáng cô lập cái bên trong [nội tâm], cái không-hiện thực như cái gì đối lập lại với hiện thực; giống như khi chống lại thái độ trực cảm và phụng hiến có tính nội tâm của Lòng tin, sự Khai sáng đã bám chặt vào tính ngoại tại của sự vật cảm tính. Sự Khai sáng đặt yếu tố chủ yếu [của Lòng tin] vào trong ý đồ, trong tư tưởng, và qua đó thấy không cần thiết phải hoàn thành trong hiện thực việc giải thoát ra khỏi những mục đích tự nhiên. | Trái lại, bản thân lãnh vực bên trong nội tâm này [chỉ] là yếu tố mô thức (das Formale) được lấp đầy về nội dung trong những động lực tự nhiên; những động lực được biện minh bằng sự kiện [đơn giản] rằng chúng rơi vào bên trong [Tự nhiên]; rằng chúng thuộc về cái tồn tại phổ biến, tức thuộc về Tự nhiên.

§ 572

[c) Lòng tin bị làm rỗng về nội dung:]

Như thế, sự Khai sáng làm chủ một sức mạnh không thể cưỡng lại được trên Lòng tin, bởi Lòng tin cũng tìm thấy ngay trong ý thức của mình đúng những yếu tố đang được sự Khai sáng mang lại cho ý nghĩa và giá trị. Xét kỹ hơn về tác động của sức mạnh này, có vẻ thái độ chống lại Lòng tin của sự Khai sáng là nhằm phá vỡ sự thống nhất đẹp đẽ giữa lòng tin cậy với sự xác tín trực tiếp, làm mất đi sự thuần khiết của ý thức tinh thần của Lòng tin bằng những tư tưởng thấp kém, tầm thường của hiện thực cảm tính, và phá hủy cái tâm thức bình yên và an toàn có được từ sự hạ mình tuân phục của Lòng tin bằng sự tự phụ của lý trí, của ý chí cá nhân và sự tự thực hiện bản thân. Nhưng, đúng hơn, trong thực tế, sự Khai sáng mở đầu tiến trình vượt bỏ (Aufhebung) sự phân cắt vô-tư tưởng, hay nói chính xác hơn, sự phân cắt vô-khái niệm vốn hiện diện bên trong Lòng tin. Ý thức của Lòng tin cân đo bằng thước đo có hai mặt, nhìn bằng hai loại mắt, nghe bằng hai loại tai, nói bằng hai loại giọng lưỡi và ngôn ngữ; nó đã nhân đôi mọi biểu tượng mà không chịu so sánh tính hai mặt về ý nghĩa này. Hay, có thể nói, Lòng tin sống với hai loại tri giác [đều có tính vô-Khái niệm], một bên là tri giác của những tư tưởng ngái ngủ [tiền phê phán], hoàn toàn vô-khái niệm, và bên kia là ý thức tỉnh táo, hoàn toàn chỉ sống trong thế giới cảm tính; và, trong mỗi loại, Lòng tin đều có sự quản lý riêng cho “ngôi nhà” ấy của mình.

Sự Khai sáng soi sáng[45] thế giới thiên đình ấy bằng những ý tưởng được rút ra từ thế giới cảm tính, vạch rõ tính hữu hạn mà Lòng tin không thể phủ nhận, bởi nó [cũng chính] là Tự-ý thức, và, do đó, là cái nhất thể, nơi đó cả hai phương cách biểu tượng nói trên đều thuộc về, và ở trong đó, chúng không bị tách rời nhau ra nữa, vì chúng cùng thuộc về một Tự ngã đơn giản, không thể bị phân lìa, một Tự ngã mà [từ nay] Lòng tin đã chuyển hóa vào.

§ 573

Như vậy, kết quả là Lòng tin đã đánh mất hết nội dung vốn đã lấp đầy môi trường (Element) của nó và bị sụp đổ vào trong tình trạng ngột ngạt, u sầu, nơi đó Tinh thần chỉ còn âm thầm đan dệt trong chính bản thân mình thôi. [đời sống của xúc cảm cảm tính]. Lòng tin đã bị xua đuổi ra khỏi vương quốc của mình, hay nói khác đi, vương quốc này đã bị cướp bóc hết sạch, bởi ý thức tỉnh táo [sự Khai sáng] đã giành hết về tay mình mọi sự phân biệt và bày biện ở trong vương quốc ấy, đòi lại quyền làm chủ đối với mọi bộ phận của nó để trả về cho mặt đất là người chủ sở hữu của chúng. [Trút bỏ mọi thứ ấy] nhưng Lòng tin cũng không vì thế mà được thỏa mãn, bởi việc soi sáng ấy [từ nay] chỉ cho ra đời những gì có bản chất cá biệt, và kết quả là chỉ còn có những hiện thực không có thực thể và chỉ còn có tính hữu tận thiếu vắng Tinh thần là còn nói chuyện được với Tinh thần.

Vì Lòng tin không [còn] có nội dung và cũng không thể tiếp tục ở mãi trong tình trạng trống rỗng ấy, hay nói cách khác, vì khi đi ra bên ngoài cái hữu tận – cái hữu tận là nội dung duy nhất của nó [hiện nay] – nó chỉ tìm thấy sự trống rỗng, nên Lòng tin [chỉ còn] là một sự khao khát thuần túy: chân lý của nó bây giờ là một cái Bên kia trống rỗng, không còn có thể tìm một nội dung tương ứng nào được nữa, bởi mọi vật đều đã được đánh giá và áp dụng bằng những cách khác hẳn rồi.

Như thế, trong thực tế, Lòng tin đã trở thành giống hệt như sự Khai sáng: [chỉ còn] là ý thức về mối quan hệ của cái hữu tận tồn tại-tự-mình với một cái Tuyệt đối không có thuộc tính, không được nhận thức và không thể nhận thức được; chỉ có điều: sự Khai sáng là sự Khai sáng đã được thỏa mãn, còn Lòng tin là sự Khai sáng không được thỏa mãn.

Tuy nhiên, sự Khai sáng sẽ còn tiếp tục cho thấy liệu nó có thể ở mãi trong trạng thái thỏa mãn này được hay không: sự khao khát nói trên kia của Tinh thần sầu não, đang bi ai về sự đánh mất thế giới tinh thần của mình vẫn đang lẩn khuất phía sau lưng. Bản thân sự Khai sáng đang mang theo mình vết chàm của sự khao khát không được thỏa mãn này: ở trong Hữu thể-tuyệt đối trống rỗng của nó, vết chàm này mang hình thức của đối tượng [trừu tượng] thuần túy; ở trong việc vượt ra khỏi bản chất cá biệt của nó để vươn tới cái Bên kia không được thỏa mãn, vết chàm xuất hiện ra như là hành động và tiến trình vận động; ở trong tính không có tự ngã của sự vật “có ích”, nó mang hình thức của một đối tượng có nội dung [đối tượng cảm tính cụ thể]. Sự Khai sáng sẽ xóa bỏ vết chàm này: nhưng khi xem xét kỹ hơn kết quả tích cực tạo nên sự thật của sự Khai sáng [tiết b, §§574-581], sẽ thấy rằng trong đó, vết chàm này, một cách tự mình [về nguyên tắc], đã [mặc nhiên] được xóa bỏ[46].



[1] Sự Khai sáng (Aufklärung) là sự phổ quát hóa nguyên tắc của “sự Thức nhận thuần túy” (reine Einsicht), do đó, là kết quả lô-gíc của phần phân tích trước đó. Về mặt lịch sử, tương ứng với phong trào Khai sáng thế kỷ 17-18 ở Châu Âu.

[2] Ở §521, khi bàn về “đào luyện văn hóa thuần túy” và ý thức giằng xé đổ vỡ, ta đã biết “ý thức tĩnh tại” trong hình tượng nhân vật “triết gia” của Diderot (trong “Người cháu của ông Rameau”) đối diện với ý thức giằng xé của thế giới văn hóa.

[3] Theo J.H, có thể ở đây Hegel nghĩ tới Voltaire với các công trình biên soạn từ điển vĩ đại như một sự tập hợp mọi khía cạnh của thế giới đào luyện văn hóa, xứng danh là sự “Thức nhận thuần túy”.

[4] Như đã biết, Lòng tin là tư tưởng chỉ hướng vào nội dung, còn sự Thức nhận là tư tưởng chỉ hướng vào việc phủ định mọi nội dung. Sự phát triển sẽ cho thấy: qua việc phê phán và phủ định nội dung của Lòng tin, sự Thức nhận sẽ có được nội dung của mình: đó là, tư tưởng triết học Khai sáng (thuyết duy tâm siêu nghiệm, thuyết duy vật cơ giới...) của thế kỷ 18.

[5] Hegel cũng sử dụng các ý kiến phê phán kịch liệt đối với tôn giáo (Ki-tô giáo) của các tác giả thời Khai sáng, tiêu biểu là của D’Holbach. (Xem: D’Holbach: Le christianisme dévoilé, ou examen des principes et des effets de la religion chrétienne”/“Đạo Ki-tô bị vạch trần, hay nghiên cứu về các nguyên tắc và hậu quả của đạo Ki-tô”, London, 1767, các Chương 6, 14 và đặc biệt Chương 15, tr. 188: “Như thế, trong tôn giáo La mã, giáo sĩ cai trị vua chúa và qua đó đảm bảo sự cai trị của giáo sĩ đối với thần dân. Sự mê tín và chuyên chế tạo thành một liên minh vĩnh cửu và hợp nhất các nỗ lực để giữ nhân dân của các dân tộc trong vòng nô lệ và bất hạnh”..., tr. 190 (Chương 16): “Tất cả những gì đã trình bày đã cho thấy hết sức rõ rằng đạo Ki-tô là đi ngược lại nền chính trị lành mạnh và hạnh phúc của các dân tộc. Có lẽ nó chỉ có lợi cho đám vua chúa, những kẻ bất chấp sự Khai sáng và đạo lý, tin rằng mình buộc phải cai trị đám thần dân nô lệ và, để bóc lột và khủng bố không thương tiếc, chúng liên minh với bọn giáo sĩ mà chức năng của giới này bao giờ cũng là bịp bợm nhân danh “cõi Trời ”. Ngoài ra, trong các tiểu đoạn sau (549-554) có lẽ Hegel cũng sử dụng các luận điểm phê phán của D’Holbach làm cơ sở để lập luận (“thuyết nhân hình” trong quan niệm về Thượng đế, các quan niệm về đạo đức, luân lý như: tự nguyện sống nghèo túng, tu sĩ không lập gia đình, xưng tội, chay tịnh...). (Xem: D’Holbach: “System der Natur”/“Hệ thống Tự nhiên”, bản dịch tiếng Đức của Herr von Mirabeau, Frankfurt/Leibzig 1791, tr. 318-338; tác phẩm nặc danh của D’Holbach: “Systeme social. Ou principes naturels de la morale et de la politique. Avec un examen de l’influence du gouvernement sur les moeurs”/“Hệ thống xã hội hay các nguyên tắc tự nhiên về luân lý và chính trị. Với một nghiên cứu về ảnh hưởng của chính quyền đối với phong tục”, tập I, London 1773 (Chương 15); tập 2, London 1773 (Chương 10) (dẫn theo bản Meiner).

[6] Nhiệm vụ đầu tiên của sự Khai sáng là “khai sáng” cho quần chúng ngây thơ, những người, tự mình [mặc nhiên, tiềm năng] là có Lý tính sáng suốt, nhưng bị tầng lớp giáo sĩ lừa bịp.

[7] Trích dẫn từ Diderot: “Rameau’s Neffe”/“Người cháu của ông Rameau” (bản dịch tiếng Đức của Goethe, “Các tác phẩm”, tập 1, 45, 116 và tiếp). Trong đoạn văn này, Diderot châm biếm phương pháp truyền giáo (Ki-tô giáo) của những tu sĩ Dòng Tên ở Trung Quốc và Ấn Độ. Hegel mượn hình ảnh này để mô tả sự “lan tỏa” của phong trào Khai sáng ở Châu Âu, thế kỷ 18.

[8] Mượn hình ảnh trong Kinh Thánh, Moses 21, 8.

[9] “Sự đan dệt âm thầm” (das stumme Fortweben): Hegel dùng chữ này để chỉ công việc âm thầm, chưa có ý thức trong tinh thần của một thời đại hay một học thuyết trước khi nó xuất hiện công khai ra bên ngoài.

[10] Việc làm thứ hai của sự Khai sáng là tiến hành công việc phủ định. Sự Khai sáng, sau thời gian tự phát âm thầm, bắt đầu triển khai trong ý thức như là sự phủ định ồn ào chống lại Lòng tin.

[11] “Khi Lý tính nói về một cái khác với nó thì, trong thực tế, nó chỉ nói về chính mình; trong khi nói ra như vậy, Lý tính không đi ra khỏi chính mình”: Câu then chốt của cả đoạn và nêu cái nhìn sâu sắc về cuộc đấu tranh tư tưởng ở thế kỷ 18. Lý tính chỉ trích một thế giới đầy mê tín, sai lầm mà nhân loại phải sống qua bao thế kỷ, nhưng chính Lý tính cũng đã ở trong bao thế kỷ ấy chứ không phải cái gì khác. Do đó, đấu tranh chống lại Lòng tin cũng chính là chống lại bản thân nó. Nó tố cáo Lòng tin là cái gì khác nó, nhưng cái khác này cũng là chính nó. Do đó, quan niệm của Hegel không phải là phủ định hay phủ nhận tôn giáo (vì như thế là tự mâu thuẫn, là xem tôn giáo như cái gì khác với Lý tính) mà là phải nâng tôn giáo lên cấp độ Khái niệm.

[12] Như vậy, trước L. Feuerbach khá lâu, Hegel đã nhận ra luận điểm phê phán tôn giáo bằng cách xem tôn giáo là sản phẩm của chính ý thức con người. Tuy nhiên, khác với thế kỷ 18, Feuerbach không dùng nguồn gốc của ý thức con người để đả kích tôn giáo mà xem đó là một phương tiện để mang lại cho con người ý thức về sự phong phú nội tại của chính con người. Feuerbach đã tiếp thu rất nhiều từ Hegel.

[13]  “Con người tự biến thành mục đích, thành đối tượng cho những tư tưởng của Thượng đế” (L. Feuerbach: “Bản chất của đạo Ki-tô”. Bản tiếng Pháp, 1864, tr. 333) (dẫn theo J.H).

[14] “Vertrauen”: sự tin cậy: đây chính là “fiducia” của các nhà thần học, là yếu tố “hợp nhất”, đối lập lại với yếu tố “phân ly”, đồng thời có mặt trong Lòng tin.

[15] Con người không còn nhận ra chính mình trong Thượng đế như một ý thức cá biệt, bất tất nữa, mà vẫn với tư cách là Tự-ý thức, là ý thức phổ biến, bản chất. Sau này, Feuerbach sẽ nói rằng, trong trường hợp ấy, con người nhận biết tính vô tận của bản tính Loài của mình, đối lập lại với sự giới hạn của cá nhân riêng lẻ.

[16] Thượng đế không còn tồn tại mà không có con người cũng như con người không tồn tại mà không có Thượng đế. Việc hiện thực hóa bản chất của Tinh thần là sự hiện diện của Thượng đế trong cộng đồng. Do đó, việc nâng cộng đồng lên cấp độ Tinh thần – tức sự thờ cúng trong nghĩa rộng – là một yếu tố bản chất.

[17] Việc tạo ra Tinh thần ở trong cộng đồng là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ. Hữu thể tuyệt đối còn là tự-mình và cho-mình. Nghĩa là, đối với ý thức của Lòng tin, Thượng đế vẫn xuất hiện ra như cái gì khác, ở phía bên kia (đối lập lại với yếu tố “tin cậy”/Vertrauen/fiducia trước đây). Thế nhưng, sự Khai sáng sẽ lý giải yếu tố trước theo nghĩa Lòng tin tạo ra đối tượng cho mình; và lý giải yếu tố sau theo nghĩa Lòng tin nhận được đối tượng của mình từ một nguồn cung cấp xa lạ tuyệt đối: từ sự lừa dối của giới giáo sĩ (xem §550).

[18] Tức, trong sự phê phán này, sự Khai sáng đã tự mâu thuẫn với chính mình.

[19] Hegel nhắc lại câu hỏi được treo giải thưởng của Viện Hàn Lâm khoa học Berlin do D’Alembert gợi ý và được vua Friedrich II công bố năm 1778. (Xem: Nouveaux Mémoires de l’Académie Royale des Sciences et Belles-lettres, Année 1778. Berlin 1780, tr. 30; Année 1780, Berlin 1782, tr. 14 (dẫn theo bản Meiner).

[20] Theo đó, sự Khai sáng đả kích Lòng tin (Tôn giáo) ở cả ba phương diện: đối tượng, cơ sở và các hình thức sùng bái của nó.

[21] “có mắt và không nhìn thấy”: mượn hình ảnh trong Kinh Thánh, Ca Vịnh, 115, 4 và tiếp.

[22]  Ở tiết trước (“Lòng tin và sự Thức nhận thuần túy”) ta biết rằng, đối với Lòng tin, cái Bản chất hay Hữu thể tuyệt đối (Thượng đế) xuất hiện ra như đối tượng, nhưng tính đối tượng khách quan này chỉ là một hình thức trống rỗng. Trong khi đó, sự Thức nhận chỉ xem xét hình thức khách quan này, thậm chí xem nó là Tự ngã hiện thực, nên hình thức này chỉ có thể là cái tồn tại cảm tính. Do đó, bây giờ sự Khai sáng chỉ xem đối tượng của Lòng tin như một tính khách quan cảm tính, một hòn đá, một khúc gỗ, một ngẫu tượng cảm tính nào đó. Như vậy, một trong các đặc điểm của sự Khai sáng là tách rời cái cảm tính với tư tưởng, tách rời cái hữu tận với cái vô tận. Theo Hegel, nó còn phải “khắc phục” chỗ hạn chế này. (Xem: Hegel: “Tin và Biết”/“Glauben und Wissen”: bản Lasson, I, tr. 225).

[23] “Thuần túy”: yêu sách của sự Khai sáng là tách rời cái hữu tận với cái Vô tận; từ đó dẫn tới thái độ đối lập là “không thuần túy” (theo nghĩa chơi chữ của Hegel: “không trong sạch”) khi phê phán Lòng tin.

[24] Ám chỉ những ý kiến của G. E. Lessing (1729-1781) khi tranh luận với phương pháp lý giải Kinh Thánh của H. S. Reimarus (quyển “Apologie oder Schutzschrift für die vernünftigen Verehrer Gottes”/“Biện hộ hay tác phẩm bảo vệ cho những người tôn thờ Thượng đế một cách có lý tính” của Reimarus được Lessing chọn lọc và công bố với nhan đề: “Fragmente eines Ungenannten”/“Văn tuyển của một người không nêu tên”). Theo Lessing, các sự thật lịch sử có tính bất tất không thể dùng để chứng minh các chân lý tất yếu của lý tính: cần phải phân biệt giữa văn tự và tinh thần của Kinh Thánh, giữa Kinh Thánh và tôn giáo; các phê phán đối với Kinh Thánh không thể được xem như các phê phán chống lại bản thânTinh thần của Kinh Thánh cũng như chống lại tôn giáo. Mặt khác, dùng các luận cứ thần học-giáo điều để phản bác lại cũng chỉ có tác dụng rất hạn chế. Vì thế, tham gia vào việc đánh đồng “các chân lý của lý tính” (“vérités de raison”) với “các sự thật của sự kiện” (“vérités de fait”) theo kiểu Reimarus là “không khỏi bị lây nhiễm” bởi chủ trương phi-chính thống của đối phương (Lessing phê phán phương pháp phản bác của J. M. Goeze thuộc phái Luther chính thống). Xem: Gotthold Ephrain Lessing: “Sämtliche Schriften”/ “Toàn tập”, 23 tập, Berlin 1886-1924 (in lại: Berlin 1968), tập 13. 1-8 (dẫn theo bản Meiner). Ngoài ra, ở đây ta thấy Hegel sử dụng phép biện chứng quen thuộc: sự phê phán của Khai sáng “thâm nhập” đến mức nào đó sẽ buộc Lòng tin chấp nhận chiến đấu trên “chiến trường” do sự Khai sáng dọn sẵn. “Chiến đấu” trên đất của đối phương là “tự mình” đã chịu thất bại, nếu không biết đặt vấn đề trên chính “mảnh đất” của chính mình. (dẫn theo bản Meiner).

[25] Như thế, chủ trương đầu tiên của sự Khai sáng (trong chừng mực nào đó, giống với phong trào Cải cách của Martin Luther) là tách biệt triệt để cái hữu tận (và vĩnh viễn là hữu tận) với cái Vô tận (vĩnh viễn là bất khả tri, là không có quan hệ với trực quan). Trong “Tin và Biết”/“Glauben und Wissen”, Hegel xem triết học của Kant, Fichte, Jacobi là đứng trên quan điểm này, và chưa “hòa giải” được giữa cái hữu tận và cái vô tận.

[26]  “Cái trống rỗng”: Hữu thể tối cao bất khả tri (hay “Vật-tự thân”) của thuyết Thượng đế luận thế kỷ 18. Ta không thể nói gì về “Hữu thể này” ngoài việc nó tồn tại “tự-mình” (hay “tự thân” kiểu Kant) và không-tồn tại-cho-một cái khác (sein für anderes).

[27] Mọi tính quy định cảm tính đều có thể gán cho cái Tuyệt đối và là “tự-mình”, nhưng vì cái Tuyệt đối là cái hình thức trống rỗng, nên không thể dừng lại ở yếu tố này. Tính quy định cảm tính bị phủ định với tư cách là tính quy định tuyệt đối mà trở thành “cho-một cái khác”. Nên yếu tố thứ ba sẽ là “tồn tại-cho mình”, dẫn tới Khái niệm về “tính hữu ích” sau đây.

[28] Tiến trình vận động này không gì khác hơn là sự vận động của tính quy định hay của sự tri giác trước đây, nhưng được chuyển sang thế giới của Tinh thần, thể hiện ở Khái niệm “tính hữu ích” vốn chưa xuất hiện trong bình diện “tri giác”.

[29] Ám chỉ “triết học về con người” (“Philosophie de l’homme”) theo quan niệm của thế kỷ 18, đặc biệt của các nhà “Bách khoa Pháp”. Đó là quan niệm con người như là “tồn tại của Tự nhiên” (“être de la nature”), đối lập lại với quan niệm tôn giáo về con người (theo J.H).

[30] Có lẽ ở đây Hegel muốn ám chỉ thuyết của J. O. de Lamettrie (1709-1751) thuộc phong trào Khai sáng Pháp, thường được gọi là sự cách tân triết học Epikur (thế kỷ 3 tr. TL.). Theo Lamettrie, Tự nhiên tạo ra con người để được hưởng hạnh phúc. Mỗi người có thể đạt được hạnh phúc phù hợp với mình. Để bảo đảm hạnh phúc, cần có một “nghệ thuật hưởng thụ”, tức biết xác định đúng “mức độ”. Do đó, nhiệm vụ của Đạo đức học là dạy về sự điều độ như là nguồn gốc của mọi đức hạnh. Ngoài ra, khác với Descartes, Lamettrie không thừa nhận có sự dị biệt cơ bản nào giữa người và thú vật. Con người là con vật nhưng có khả năng phát triển đặc biệt năng lực biểu tượng của mình. Xem: La Mettrie: “Oeuvres”/ “Các tác phẩm”, tập 2, Luận văn về hạnh phúc, tr. 223; tập 3, Người máy, tr. 145 và tiếp; “Nghệ thuật vui chơi”, tr. 225 và tiếp (dẫn theo bản Meiner).

[31] Ở đây, Hegel có lẽ ám chỉ thuyết của các nhà Khai sáng Pháp (nhất là Helvétius và Holbach) về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội xét ở giác độ “có ích” cho nhau. Helvétius cho rằng hành vi của một người có “đức hạnh” vừa có lợi cho mình lẫn cho xã hội. Ngoài ra, hảo ý dành cho người khác tùy thuộc vào tính hữu ích mà người khác mang lại cho mình. Vì mọi hành vi đều dựa trên lợi ích và mục đích vị kỷ, nên không ai hy sinh hạnh phúc của mình cho người khác. Do đó, nhiệm vụ của việc lập pháp sáng suốt là kết hợp lợi ích riêng với lợi ích của nhà nước và đặt “đức hạnh” trên nền tảng lợi ích của mỗi cá nhân. (Xem: M. Helvétius: “De l’esprit”/“Về Tinh thần”, tập I, Zweibrücken 1784, tr. 67). Holbach – và trước đó, Lamettrie – đều tán đồng quan niệm này. Xem: Holbach và Lamettrie, Sđd (dẫn theo bản Meiner).

[32] Xem thêm về triết học thời Khai sáng: Hegel: Các bài giảng về Lịch sử triết học, 1884, t. III, tr. 456 và tiếp.

[33] Ở đây chủ yếu ám chỉ quan niệm “duy lợi” của Helvétius (xem chú thích cho tiểu đoạn 560), theo đó bất kỳ tôn giáo nào cũng phải dựa trên nguyên tắc “hữu ích chung”. Tôn giáo nào đặt cơ sở trên nguyên tắc vĩnh cửu, bất biến này mới là tôn giáo của mọi người. Trong tôn giáo ấy, không có “thần linh” nào hơn là những kẻ “có ích” cho xã hội và không có “ác quỷ” nào hơn là những kẻ “có hại” cho xã hội. Thượng đế của tôn giáo này là tốt và công bình; Ngài muốn mọi người đều được hưởng hạnh phúc phù hợp với lợi ích công cộng. (Xem: Helvétius, Sđd, tr. 192). Ngoài ra, có thể Hegel cũng ám chỉ câu trả lời tán thành của F. de Castillon trước câu hỏi: sự lừa mị có lợi cho quần chúng hay không (câu hỏi có treo giải thưởng của Viện Hàn Lâm Khoa học Berlin năm 1778, xem chú thích cho tiểu đoạn 550), theo đó, lòng tin vào sự tồn tại của Thượng đế, sự bất tử của linh hồn và sự thưởng, phạt sau khi chết – bất kể đúng hay không – là rất có lợi cho quần chúng (dẫn theo bản Meiner).

[34]  Vận động của Khái niệm luôn luôn là sự đối lập tuyệt đối về mặt hình thức của cái gì tuyệt đối là một. Có bản tính của Tự-ý thức, khái niệm là tiến trình quay trở lại với chính mình từ cái tồn tại-khác (của chính mình).

[35] “Lòng tin cậy” hay “Lòng tin tưởng” (Vertrauen): tức cái “fiducia” nói ở §549.

[36] Xem thêm phép biện chứng giữa “tồn tại” (sản phẩm được tạo ra) và “việc làm” (hay “tính hoạt động thuần túy” của Tự-ý thức tạo ra sự tồn tại) trong §708. Hai yếu tố này phải được hợp nhất lại.

[37] Sai lầm của Lòng tin là ở chỗ tách rời những tư tưởng của chính mình. Sự Khai sáng thì biết tập hợp chúng lại, nhưng sai lầm của sự Khai sáng là chỉ thấy tính phủ định và cũng không thể hòa giải được giữa cái hữu tận và cái vô tận. Khi Lòng tin xem Thượng đế như cái gì ở “bên kia”, thì sự Khai sáng lại xem đó là sản phẩm của ý thức; ngược lại, khi Lòng tin xem Thượng đế như gắn liền với ý thức bằng “lòng tin cậy”, “lòng tin tưởng”, thì sự Khai sáng lại xem đó như là một Hữu thể xa lạ. Trong khi đó, Lòng tin cũng chao đảo giữa “Lòng tin cậy nói trên vào Thượng đế và sự tuyệt vọng, vì xem Thượng đế “là không thể dò tìm, không thể nào vươn đến nỗi”, tức vẫn phân ly triệt để cái hữu tận với cái vô tận. Vấn đề là phải suy tưởng bằng Khái niệm về sự thống nhất của hai yếu tố này; nếu không, trong “Lòng tin tưởng”, Thượng đế thiếu yếu tố “tự-mình”, chỉ là sản phẩm tưởng tượng; còn trong sự phân ly, lại thiếu yếu tố hợp nhất và hoàn toàn xa lạ với ý thức.

[38] tức sự “phân chia” rành mạch được hình dung bằng hình tượng giữa ba Ngôi (ba “vương quốc” của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần [hay Thánh linh]) và việc Thượng đế nhập thể như một “sự cố cảm tính”.

[39] Xem: Lời Tựa: §47: “Sự xuất hiện ra [hay “Hiện tượng”] là tiến trình ra đời và mất đi, nhưng bản thân tiến trình này không ra đời và mất đi mà là tự mình và chính nó tạo ra hiện thực và sự vận động cho sự sống của Chân lý”.

[40]  “des sich selbst vergewissernden und bewährenden Geistes”: “Tinh thần vừa mang lại cho mình sự xác tín lẫn chân lý về chính mình”, vì Tinh thần là cái gì hợp nhất trong chính mình hai yếu tố vốn bị tách rời khỏi nhau trong bình diện Hiện tượng học: đó là hai yếu tố: sự xác tín (chủ quan) và chân lý (khách quan).

[41] “Trung giới giữa chính mình (Tự ngã) với chính mình (Tự ngã), tức sự trung giới trực tiếp thoạt nghe có vẻ nghịch lý này chính là điều sẽ được Hegel gọi là “Tri thức tuyệt đối” (Absolutes Wissen) ở cuối sách.

[42] Sự Khai sáng cho thấy Lòng tin rơi vào sự giả-đạo đức do không hợp nhất được hai mặt của cuộc sống của mình: cuộc sống trong việc thờ phượng và cuộc sống trong đời thường.

[43] Việc tu hành, thờ cúng là sự vận động hai chiều: từ Thần đến người và từ người hướng lên Thần, tức con người cá nhân phải tự nâng lên khỏi bản tính cảm tính và xấu xa của mình.

[44] Origines [Origen] (185-254): nhà triết học và thần học trường phái Alexandria, thuộc thời kỳ các “giáo phụ” (Patristik), quan niệm rằng: Thoạt kỳ thủy, Thượng đế sáng tạo ra mọi hữu thể có linh hồn với sự hoàn hảo như nhau. Chính ý chí tự do – qua đó có khả năng chọn lựa cái ác – mới làm nảy sinh sự dị biệt. Những hữu thể ở bên cạnh Thượng đế là những thiên thần, còn hoàn toàn sa đọa thì thành quỷ dữ. Ở giữa là con người. Hình phạt cho tội lỗi của con người là gắn linh hồn con người với thân xác, và qua việc điều ngự thân xác, con người có khả năng đạt được sự thanh tẩy. Sau cuộc sống trần gian, tất cả được giải thoát khỏi cái ác và lại trở về hợp nhất với Thượng đế. Quan niệm này của Origines, sau đó, bị kết tội là dị giáo.

[45] “beleuchten: soi sáng. Ở đây, Hegel chơi chữ: sự Khai sáng soi sáng thế giới ở phía “bên kia” của ý thức ngái ngủ.

[46] Khi Lòng tin bị làm rỗng hết về nội dung, hay nói khác đi, bị sự Khai sáng “cướp đoạt” hết nội dung, nó sẽ giống hệt như sự Khai sáng, đó là sự tách rời triệt để giữa cái hữu tận với cái vô tận. Trong khi Lòng tin sầu não vì không được thoả mãn, tiếp tục “đan dệt” âm thầm, ngột ngạt trong sự khao khát cái thế giới đã mất (ám chỉ triết học của Jacobi), thì sự Khai sáng – được thỏa mãn – sẽ rơi vào sự mâu thuẫn, tranh chấp ngay trong chính mình về “chiến lợi phẩm” đã giành được: cái “Hữu thể tuyệt đối” (của Lòng tin trước đây) phân hoá thành “tư duy thuần túy” (ám chỉ thuyết duy tâm) và “vật chất thuần túy” (ám chỉ thuyết duy vật cơ giới). Cả hai xoay quanh Khái niệm “tính hữu ích”, vì tất cả đều chỉ còn là mối quan hệ với lợi ích của con người.

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: phucdh@triethoc.edu.vn hoặc phuongcn@triethoc.edu.vn
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt