Triết học Hy Lạp

Parménide (phần 1)

 

PARMÉNIDE

(phần 1)

PLATON (khoảng 427-347tcn)

 

 

CÉPHALE, ADIMANTE, GLAUCON, ANTIPHON

 

Céphale tường thuật lại cuộc gặp gỡ với Antiphon

Từ Clazomène quê hương của chúng tôi, thoạt vừa bước chân vào đô thị Athènes, trên quảng trường đông người, chúng tôi đã bắt gặp được Adimante và Glaucon. Bắt tay tôi Adimante niềm nở nói: “Thực là hân hạnh, Céphale, được anh tới chơi; nếu có chuyện chi giúp đỡ được, chúng tôi xin sẵn sàng”.

“Đó chính là điều khiến chúng tôi tới đây, tức là yêu cầu các anh một việc”. Tôi đáp – Adimante săn đón: “Anh cứ việc cho biết”.

Lập tức tôi hỏi anh ta: “Người em cùng mẹ ruột với anh tên gì nhỉ? Tôi lỡ quên mất. Đã lâu lắm rồi, vào dịp từ Clazomène, tôi đến đây lần đầu tiên, lúc đó anh ta mới là một đứa con nít. Hình như tên cha anh là Pyrillampe thì phải”. – “Đúng thế” Adimante đáp “và tên anh ta là Antiphon. Nhưng anh muốn biết điều đó để làm gì chứ?”

Tôi trình bày: “Đây là những triết gia chính cống trong số những đồng hương của tôi. Họ nghe rằng: Antiphon, phải chính Antiphon, đã thường giao dịch với một ông nào đó tên Pythodore, đồ đệ của Zénon và nhiều lần anh ta đã được nghe kể lại những luận chứng trình bày cho Pythodore, đến nỗi anh ta đã thuộc lòng. Đó là cuộc đối thoại xưa kia Socrate, Parménide và Zénon đã tranh luận với nhau.

“Đó là một sự thật”. Adimante đáp.

“Vậy thì chúng tôi muốn được nghe thuật lại chính những luận chứng đó” tôi nói.

“Thế thì không có gì khó khăn cả, anh ta tiếp, em tôi đã dày công học thuộc lòng chúng ngay lúc còn thiếu niên. Nhưng hiện giờ, trở về với những sở thích của ông tổ cùng tên, nó lại lấy việc đua ngựa làm say sưa nhất; nó vừa ở đây về nhà, và cư ngụ rất gần đây, ở Mélite thôi”.

Vừa dứt lời, chúng tôi liền lên đường và gặp Antiphon tại nhà, đang trao cương ngựa cho thợ rèn sửa. Khi anh ta vừa xong việc với bác thợ thì các anh ta đã giới thiệu với anh về mục tiêu cuộc gặp gỡ của chúng tôi. Lập tức anh ta đã nhớ rõ rệt có gặp tôi, vào dịp tôi đến đây lần đầu tiên và chào hỏi tôi. Nhưng khi nghe chúng tôi xin anh thuật lại cuộc đối thoại thì thoạt tiên anh hơi ngần ngại và nói: đó là một việc trọng đại. Tuy nhiên, anh ta cũng thuật lai cho chúng tôi đầu đuôi câu chuyện.

 

PYTHODORE, SOCRATE, PARMÉNIDE, ARISTOTE

Bản tường thuật về đối thoại: Socrate, Parménide, Zénon

Vậy theo Antiphon, Pythodore đã thuật lại rằng: một hôm cả Zénon, cả Parménide đã tới dự lễ toàn dân thành Athènes. Parménide thì đã cao niên, tuy đầu tóc bạc phơ, nhưng lại có một tướng mạo đường đường, oai phong; thực ra thì ông ta đã gần sáu mươi lăm tuổi. Zénon thì mới gần bốn mươi, nhưng tầm vóc đẹp, bộ điệu duyên dáng và được thiên hạ coi là thân mến của Parménide. Cả hai đã xuống nhà Pythodore, ở Céramique ngoại thành. Socrate cũng tới đó và cùng với ông còn có cả một đoàn tùy tùng, gồm toàn những người ham nghe đọc tác phẩm của Zénon. Vào dịp đó quả là lần đầu tiên mà đoàn tùy tùng này vào đây, nhờ sự giới thiệu của hai du khách: lúc ấy Socrate hãy còn là một chàng thiếu niên rất trẻ tuổi. Và Zénon đã đọc tác phẩm cho họ nghe. Đang khi đó Parménide tình cờ phải ra ngoài. Nên theo lời Pythodore thì việc đọc những luận chứng đã gần hoàn tất, khi chính ông ta bất chợt cùng với Parménide trở về, có thêm Aristote, một người trong nhóm Ba mươi [1] cùng đi vào. Vì vậy họ chỉ nghe được ít dòng cuối cùng của tác phẩm, ngoại trừ Pythodore người đã được chính Zénon đã đọc cho nghe trước đây rồi.

Những luận chứng của Zénon và sự phê phán của Socrate

Vậy vừa nghe xong, hình như Socrate đã yêu cầu đọc lại giả thuyết thứ nhất của luận chứng thứ nhất. Và khi nghe lại rồi, ông đã thức mắc hỏi: “Thưa Zénon tiên sinh, ngài muốn nói gì qua những luận chứng đó chứ? Có phải là, nếu các sự vật là đa thể [2] thì chúng không thể vừa tương tự vừa bất tương tự với nhau được. Đó là một điều không thể vì rằng cái bất tương tự và những cái tương tự không thể là bất tương tự được, phải không? Có phải ngài muốn chủ trương như vậy không?”

- “Đúng vậy” Zénon trả lời.

- “Vậy, nếu không thể nào những cái bất tương tự lại tương tự với nhau được và những cái tương tự lại tương tự với nhau được, thì chính vì đó không thể rằng: cái đa thể có được; vì một khi được giả thiết là có đi nữa thì nó không thể nào tránh được những không thể vừa nói trên, phải không? Vì điều mà những luận chứng của ngài nhằm chủ trương, có phải không là gì khác cho bằng chỉ phấn đấu cao độ chống đối tất cả mọi hình thức ngôn ngữ thông thường, để quy định rằng: không có đa thể [3], phải không? Có phải trong tư tưởng của ngài, đó là điều mỗi luận chứng của ngài muốn chứng minh không? Đến nỗi cứ theo sự đánh giá của ngài thì bao nhiêu luận chứng đã được ngài viết ra là bấy nhiêu chứng minh ngài viện dẫn về việc không có đa thể, phải không? Đó có phải là điều ngài muốn chủ trương không, hay có lẽ tôi đã hiểu lầm ngài?”

- “Hoàn toàn không” Zénon trả lời. Trái lại, chàng đã lãnh hội được cả chủ đích của tác phẩm của tôi, một cách thực hoàn hảo”.

- “Thưa Parménide tiên sinh, hình như Socrate đã thắc mắc hỏi, tôi hiểu rằng Zénon muốn được gắn liền với ngài không phải chỉ bằng tất cả tình thân hữu với ngài, mà còn bằng chính cả tác phẩm của ngài nữa đó [4]. Nói khác đi, chính luận cương của ngài là điều ông ta không muốn viết ra đây, nhưng theo dáng vẻ của ngài, ngài khẳng định rằng: Toàn thể vạn vật chỉ là một, và ngài đã viện dẫn vô số chứng minh hùng hồn; một bên ông ta thì khẳng định rằng: không có vạn vật đa tạp, và ông ta cũng viện dẫn nhiều chứng minh rất hay. Khi mà ngài khẳng định về cái Đơn nhất, còn ngài kia lại phủ định cái Đa thể, thoạt nhìn thì hình như mỗi ngài không nói gì giống nhau cả, nhưng kỳ thực thì cả hai đã chỉ nói cùng một điều giống hệt nhau. Nên những tranh luận của các ngài chỉ có vẻ những tranh luận qua mặt chúng tôi là những người tục tử mà thôi”.

- “Thôi đi, Socrate” hình như Zénon đã lên tiếng. “Như vậy là chàng đã hoàn toàn không hiểu được thực chất của tác phẩm của ta. Tuy rằng với thính giác của những con chó của Laconnie, chàng đã săn bắt và rượt đuổi những tư tưởng theo từng vết tích một của chúng, nhưng chàng vẫn hiểu lầm và đây là hiểu lầm đầu tiên của chàng: thực thà quyển sách của ta đã không có cao vọng gì đến nỗi như chàng mường tượng rằng nó đã được viết ra để che giấu chủ đích cao cả của nó với nhân thế đâu. Nên điều chàng vừa trình bày trên kia chỉ là những gì thứ yếu. Điều thực sự quyển sách của ta nhằm là theo cách thức của nó biện hộ cho luận cương của Parménide chống đối lại những ai cố tình phỉ báng nó và, từ tính đơn nhất do nó khẳng định, những ai tự hào rút ra được những hệ luận theo đó luận cương bị chế nhiễu và tự mâu thuẫn. Như vậy là quyển sách đến để đối đáp lại những kẻ nào khẳng định về cái Đa thể, và đánh những đòn gấp bội. Hơn nữa, nó còn muốn chứng minh rằng: luận cương của họ về đa thể còn đáng buồn cười hơn luận cương về cái Đơn nhất, đó là đối với những ai am hiểu được hết những hệ luận của nó. Chính trong khí thế chiến đấu đó mà khi còn niên thiếu ta đã biên soạn ra quyển sách đó. Nhưng không biết ai đã đánh cắp mất bản thảo đó đến nỗi ta không còn biết có quyết định hạ sinh nó hay không nữa. Đó là sai lầm của chàng khi nghĩ rằng không phải với khí thế chiến đấu của một con người trẻ tuổi, mà là do tham vọng của người đứng tuổi, Socrate. Ngoài ra như ta đã nói, cách thức chàng đánh giá quyển sách đã không có gì đáng chê cả”.

- “Dạ, tôi chấp nhận sự phân giải”, hình như Socrate đáp “và tin tưởng như ngài đã nói. Nhưng đây là điều tôi muốn biết, Ngài có nghĩ rằng phải có một hình thức tự nội về tính tương tự không và đối đáp lại nó, phải có một hình thức tự nội khác, đó là bản chất của bất tương tự không? – “Và ngài có nghĩ rằng: “vào cả hai hình thức đó, tất cả chúng ta, cả tôi và cả ngài, rồi cả những gì khác mà chúng ta gọi là cái đa thể, đều thông dự không?” – Và ngài có nghĩ rằng: “Chính vì sự kiện và trong chừng mực nó thông dự vào đó thì cái gì thông dự vào tính tương tự sẽ trở thành tương tự và bất tương tự cái gì thông dự vào tính bất tương tự; và sẽ trở thành cái này hoặc cái kia, cái gì thông dự vào cái này hoặc cái kia không? Nếu, tất cả vạn vật đều thông dự vào hai hình thức đối lập nhau đó, và tự chúng tất cả vạn vật đều vừa tương tự vừa bất tương tự, do vì sự thông dự vào bên này hoặc bên kia đó, thì như vậy có điều gì đáng phải bỡ ngỡ không?” – Và ngài có nghĩ rằng: “Ngược lại, những cái tương tự tự nội đã trình bày cho chúng ta là bất tương tự, hay những cái bất tương tự là tương tự được, thì tôi sẽ coi đó là một điều kỳ diệu. Nhưng, cái gì thông dự vào những cái này cũng như vào những cái kia, mà trình bày nó bởi chi phối bởi tính chất này hay bởi tính chất kia, thưa Zénon tiên sinh, tức là không nói gì lạ thường cả, ít là đối với tôi, làm thế cũng không khác gì tuyên bố rằng là đơn nhất toàn bộ những sự vật chỉ vì chúng có chân trong cái Đơn nhất và tuyên bố là đa thể cùng một toàn bộ đó chỉ vì chúng thông dự vào tính đa tạp. Ngược lại, bản chất của cái Đơn nhất mà người ta chứng minh tự nội là đa thể; rồi cái đa thể mà người ta chứng minh là đơn nhất. Đó là điều sẽ gây bỡ ngỡ cho tôi. Về tất cả những gì còn lại tôi cũng nói như vậy. Rồi những chủng loại và những hình thức tự nội cũng vậy, nếu được trình bày như trong chúng, chúng cũng tiếp thu những đặc tính đối nghịch như vậy, thì điều đó cũng đáng bỡ ngỡ nữa không? Và công việc trong tôi, khi người ta cũng muốn trình bày tôi cũng là đa thể, tức là có bên phải, bên trái, có phía trước, phía sau, cũng như có trên, có dưới thì sao? Vì tôi nghĩ rằng tôi cũng có thông dự vào tính đa thể. Ngược lại, người ta sẽ tuyên bố rằng trong nhóm bảy người chúng ta, con người tôi là đơn nhất, chỉ vì tôi cũng tham dự vào cái Đơn nhất, nếu người ta muốn nói tôi là đơn nhất. Nếu vậy người ta sẽ chứng minh được rằng cả hai khẳng định đều đúng. Trên cơ sở của những tỉ dụ trên, ai sẽ là người nỗ lực chứng minh là đa thể và đơn nhất có cùng những đồ vật như nhau, đó là những cục sỏi, những mẩu gỗ và tất cả những gì khác, thì ta sẽ gọi là họ chứng minh chúng là đơn nhất và đa thể; như vậy không phải cái Đơn nhất họ chứng minh là đa thể cũng không phải cái đa thể họ chứng minh là đơn nhất. Như vậy họ sẽ không nói một điều gì khác thường cả, không một điều gì mà không được mọi người nhất trí. Nhưng nếu người ta hãy làm như điều tôi nói lúc nãy, nghĩa là hãy bắt đầu bằng việc phân biệt lập, theo thực tại riêng biệt của chúng, những hình thức như tính tương tự, tính bất tương tự, tính đa tạp, tính đơn nhất, tính im lìm, tính vận động, và tất cả mọi bản chất tương tự như thế; sau đó hãy chứng minh rằng giữa chúng với nhau chúng có khả năng hòa hợp và ly gián lẫn nhau; trong trường hợp này, thưa ngài Zénon, tôi sẽ bỡ ngỡ và ngây ngất biết mấy. Theo thiển ý, lập luận của ngài đã được trình bày hùng hồn và khéo léo. Nhưng xin nhắc lại, với một niềm hoan hỉ biết bao nữa, tôi sẽ hoan hô bất cứ ai có thể chứng minh được rằng: cùng những đối kháng quấn quít lấy nhau bằng muôn vàn sợi dây giữa lòng cùng những hình thức đó, đối với chúng, phía ngài đã theo đuổi chúng trong những sự vật khả giác, như thế nào, thì phía chúng tôi cũng phải có thể phát hiện thấy chúng như thế trong những sự vật (tức là chính những hình thức – chú thích của người dịch) nào mà chỉ mình suy lý mới đạt được.

Parménide và Socrate: những khó khăn gây ra do việc chấp nhận những hình thức tách biệt. Hình thức có là có những gì?

Socrate quả đã chất vấn như thế. Pythodore đã tường thuật như vậy, và thú nhận rằng tưởng chừng như mỗi câu đều có thể gây tức giận cho Parménide và Zénon. Nhưng hình như không, ngược lại, họ đã rất chăm chú nghe Socrate. Những cái liếc nhìn nhau thường xuyên, những nụ cười họ trao đổi với nhau cũng đủ để chứng minh sự ngưỡng mộ của họ. Trong tình cảm đó, lập tức Parménide đã lên tiếng khi Socrate vừa dứt lời, rằng: “Socrate”, - hình như ông đã nói -, “ta công nhận chàng đã hồ hởi và khích lệ biết bao trong cách thức lập luận của chàng. Nhưng hãy nói cho ta biết chính chàng có chấp nhận một sự tách biệt như vậy không, nghĩa là đẩy sang một bên những gì chàng gọi là chính những hình thức, và đẩy sang bên kia những gì phải thông dự vào những hình thức ấy? Nói khác đi, chàng có công nhận rằng tính tương tự tự nội, có một thực tại riêng biệt, tách rời với cái tương tự ở thực tế của chúng ta không? Và chàng có công nhận như thế cho cái Đơn nhất và cái đa thể, rồi cho tất cả những đặc tính Zénon vừa trình bày trước mặt chàng đây không? “Dĩ nhiên chấp nhận chứ”, Socrate đáp, - “Và chàng, - Parménide hỏi tiếp -, có làm như thế nữa không đối với những trường hợp sau đây, ví dụ chàng có chấp nhận một hình thức tự nội hoàn toàn biệt lập cho cái đẹp, cái tốt và cho tất cả những bản chất tương tự như vậy không?” [5] – “Thưa có”, hình như chàng đã khẳng định như vậy. – “Thế thì chàng có chận nhận rằng có một hình thức về con người tách biệt với con người hiện thực của chúng ta và với tất cả mọi con người như chúng ta không, nghĩa là một hình thức tự nội về con người, về lửa, về nước không?” – “Và, hỡi Socrate, đối với những sự vật sau đây, những gì có vẻ đáng khinh bỉ như tóc, bùn, phân hay bất cứ những đồ vật không quan thiết gì cả và không có giá trị gì cả, thì chàng có chấp nhận mỗi cái một hình thức biệt lập, chính nó cũng tách rời với đồ vật mà bàn tay ta sờ mó được không?” – “Thưa không bao giờ tôi đã thắc mắc như thế cả” hình như Socrate đã thú nhận, “những gì chúng ta nhìn thấy đó thì tôi công nhận rằng chúng có, thế thôi, còn việc nghĩ rằng phải có một hình thức cho chúng, thì tôi nghĩ rằng điều đó quá kỳ dị. Thú thực, đôi khi tôi bị ám ảnh bởi ý tưởng rằng không biết có nên chấp nhận cho tất cả mọi vật một hình thức tách biệt không. Nhưng mỗi khi vừa dừng lại trên ý tưởng đó lập tức tôi phải xa lánh nó ngay, vì sợ rằng sẽ bị lạc lõng và sa lầy trong một hố thẳm những chuyện vớ vẩn nào chăng. Vì vậy, một khi trở về với khu an toàn của tôi, tức là về với những sự vật mà chúng ta vừa công nhận phải có những hình thức, thì tôi chỉ bàn luận và nghiên cứu về những sự vật đó mà thôi.

- “Ừ, Socrate, chỉ vì chàng quá trẻ đó thôi và chưa được phong tỏa bằng một vòng kiềm tỏa vững chắc của triết học đó thôi”, - hình như Parménide nhắn nhủ như thế -, “vòng kiềm tỏa mà ta hy vọng rằng một ngày kia sẽ khống chế được chàng, ngày nào chàng không còn khinh thị đối với bất kỳ một sự vật nào cả” [6]. Hiện giờ thì chàng vẫn còn chú ý đến dư luận của người đời. Đó là vì chàng còn quá trẻ đó thôi. Bây giờ thêm một thắc mắc mới. Có phải chàng đã nói chàng tin rằng có một số những hình thức nào đó, nghĩa là chính vì sự kiện chúng không thông dự vào những hình thức tự nội của chúng thì những sự vật thông dự như vậy lại mang chính cái tên gốc của những hình thức mà chúng thông dự, phải không? Ví dụ khi thông dự vào tính tương tự thì những sự vật thông dự được gọi tên là những sự vật tương tự hay khi thông dự vào to lớn thì được gọi tên là to lớn; hay khi thông dự vào tính đẹp đẽ và tính công chính thì được gọi là công chính và đẹp đẽ, phải không?” – “Chính thế”, hình như Socrate đã đáp.

Những khó khăn trong sự thông dự

- “Vậy có phải mỗi thành viên thông dự thì thông dự vào toàn thể của hình thức hay chỉ thông dự vào một thành phần mà thôi? Hay ngoài những cách thức tham dự vừa nói trên còn một cách thức tham dự nào khác nữa không? – “Làm gì có cách thức nào khác?” – “Làm thế nào tưởng tượng một hình thức toàn diện lại có thể hiện diện trong mỗi một sự vật đa thể khác nhau được? Liệu nó có tồn tại là một được không, hay thế nào đây? – “Làm sao ngăn trở nó tồn tại là một được, thưa Parménide tiên sinh?” Hình như Socrat đã chất vấn lại – “Vậy nó tồn tại là một và đồng tính, nhưng cũng không vì vậy hiện diện ít hơn, nghĩa là cũng hiện diện toàn diện đồng thời trong những sự vật khác nhau và tách biệt với nhau, nếu vậy nó sẽ bị tự phân hóa sao?” [7] – “Không thể, nếu ít ra, cũng như ánh sáng mặt trời là một và đồng tính mà lại có mặt khắp nơi được, nhưng không vì vậy mà tự phân hóa; nếu, ta nói lại, theo tỷ dụ trên, chúng ta chấp nhận mỗi hình thức như một tính đơn nhất mà lại hiện diện, mà đồng thời vẫn còn đồng tính” – “Socrate, làm cho cùng một tính đồng nhất hiện diện nhiều nơi được là một việc dễ dàng. Không khác gì khi lấy cùng một tấm vải trùm lên nhiều cá thể rồi chàng nói rằng “cùng một đồng tính toàn diện lại trùm trên một đa tính [8]. Có phải cũng muốn nói về cùng một sự đồng nhất về sự hiện diện như thế không?”

- “Thưa có lẽ phải” hình như Socrate chấp nhận.

- “Vậy có phải tấm vải sẽ hiện diện toàn diện trên mỗi cá thể không? Hay ngược lại, một thành phần này của nó thì hiện diện trên cá thể này, một thành phần kia lại hiện diện trên cá thể kia?”

- “Một thành phần”.

- “Vậy thì, Socrate,” hình như Parménide hỏi tiếp, “cùng những hình thức ấy đã bị phân hóa; và những sự vật thông dự vào những hình thức thì chỉ sẽ thông dự vào một thành phần của những hình thức mà thôi, như vậy chúng ta sẽ không còn “toàn diện trong mỗi cái” nữa, mà chỉ có “một thành phần cho mỗi cái” mà thôi”.

- “Thực tế, chắc là phải đi đến kết luận đó rồi”.

- “Socrate, chàng có đồng ý rằng sự đồng nhất của hình thức thực sự có thể bị chúng ta phân chia, nhưng vẫn không vì vậy mà không tồn tại là một không?”.

- “Vì rằng hãy coi đây, nếu chàng phân chia tính to lớn tự nội; rồi sau đó nếu một trong nhiều sự vật to lớn chỉ to lớn do một mảnh của sự to lớn là mảnh nhỏ bé hơn sự to lớn tự nội, thì kết quả có phi lý không?”

- “Hoàn toàn phi lý”.

- “Và vì rằng mỗi thành viên tham dự tiếp nhận một mảnh nhỏ của cái ngang bằng, thì có thể với mảnh nhỏ bé hơn chính cái ngang bằng tự nội ấy, sự vật đã tiếp nhận nó lại thành ngang bằng với bất cứ cái gì khác không?”

- “Không thể nào được”.

- “Hay trong một người nào đó trong chúng ta, hãy đặt một thành phần của cái nhỏ bé. Nếu đem so sánh với thành phần này thì cái nhỏ bé sẽ lớn hơn nó vì nó chỉ là thành phần của thành phần ấy, vì chính cái nhỏ bé ấy lại lớn hơn. Trái lại, cái gì được người ta cộng thêm cho thành phần vừa được chiết tính như trên sẽ chính vì vậy mà nhỏ bé hơn chứ không lớn hơn trước khi cộng thêm”.

- “Điều đó chắc chắn không thể thực hiện được”.

- “Vậy thì bằng cách nào, Socarate” hình như Parménide đã chất vấn thêm, “chàng sẽ quan niệm sự thông dự vào những hình thức như thế nếu không thể là một thông dự vào thành phần cũng không phải là một thông dự vào toàn phần?”

- “Đối với tôi, chắc chắn lạy thần Zeus”, hình như Socrate đã thú nhận, “quy định nó bằng cách nào đi nữa cũng như không phải chuyện dễ” [9].

Hình thức kiểu một cái đơn nhất tổng hợp

- “Này còn về vấn đề sau đây chàng nghĩ sao?”

- “Thưa vấn đề gì ạ?”

- “Ta nghĩ rằng sau đây là lý do vì sao chàng đã bó buộc phải giả thiết mỗi một hình thức đặc thù trong tính đơn nhất của nó. Nghĩa là một khi một số nhiều những sự vật xuất hiện trước mắt chàng là to lớn, thì cái nhìn của chàng bao trùm lên toàn bộ chúng cho rằng đã phát hiện ra trong đó, ta nghĩ vậy, một tính chất đơn nhất và đồng tính nào đó; và vì vậy mà chàng đã bó buộc phải giả thiết cái to lớn như một đơn nhất”.

- “Điều ngài giả thiết quả là đúng vậy”. Hình như Socrate đã xác nhận.

- “Vậy thì cái to lớn tự nội và nhiều cái to lớn khác, trước con mắt của linh hồn cũng bao trùm toàn bộ chúng như vậy, chính cái đơn nhất này mới áp đặt trên tất cả một bộ diện của sự to lớn đó không?”

- “Có thế”.

- “Vậy nó phải có một hình thức mới về tính to lớn tự nội vì những thành viên thông dự vào nó tức là một toàn bộ mới sẽ được bao trùm bởi hình thức mới, và đối với hình thức mới này tất cả những gì kết cấu nên toàn bộ đó cũng phải là to lớn; vậy thì không còn phải tính đơn nhất mà mỗi hình thức sẽ là đối với chàng nữa, mà là tính đa tạp vô hạn” [10].

Hình thức kiểu khái niệm

Hình như Socrate đã chất vấn lại: “Thưa Parménide tiên sinh, miễn là mỗi một trong những hình thức đó không phải là một tư tưởng, và miễn là nó không được biểu hiện ra ở cả đâu ngoại trừ trong linh hồn. Vì chỉ được hiểu như vậy, mỗi hình thức mới bảo toàn được tính đơn nhất của nó và sẽ không còn vấp phải khó khăn ta vừa nói lúc nãy”.

Hình như Parménide đã kháng cự lại: “Trong trường hợp đó, mỗi một trong những tư tưởng ấy là tư tưởng đơn nhất, nhưng lại là tư tưởng cái không không?”

- “Không thể nào được”. Hình như Socrate đã đối đáp.        

- “Vậy đó là tư tưởng của một đối tượng ư?”

- “Tất nhiên”.

- “Nhưng đối tượng đó có hay không có?”

- “Là đối tượng có chứ”.

- “Có phải đối tượng đó tức là một cái gì của cái đơn nhất mà tư tưởng đó quan niệm là nó hiện diện trên đồng loạt cả một nhóm sự vật và kết cấu thành một đặc tính duy nhất nào đó không?”

- “Thưa phải”.

- “Đó có phải là một hình thức mà người ta quan niệm là đơn nhất như vậy và nó hiện diện trên tất cả các hình thức và luôn luôn đồng tính không?”

- “Thưa cũng phải. Rõ rệt đó là điều không thể tránh khỏi”.

Hình như Parménide nói tiếp: “Nhưng nếu khẳng định rằng: những sự vật phải thông dự vào những hình thức là một điều không thể tránh được thì có vì vậy mà song luận sau đây đối với chàng cũng là một điều không tranh được phải không, nghĩa là hoặc là tất cả đều được trang bị bằng những tư tưởng và đều tư tưởng hoặc là tất cả đều là những tư tưởng mà không biết tư tưởng?”

Hình thức kiểu nguyên mẫu

Hình như Socrate đã thú nhận: “Đó chưa phải là một giải pháp có thể biện hộ được. Nhưng thưa Parménide tiên sinh, sau đây ít là đối với tôi, là một sự lý giải hoàn hảo nhất. Rằng những hình thức đó phải có mặt thường xuyên trong thực tại theo tư cách là những nguyên mẫu; rằng những sự vật phải tương tự như chúng và phải là những bản sao chép lại chúng; và rằng sự thông dự của các sự vật vào những hình thức đó chỉ có nghĩa là chúng là những hình ảnh của những hình thức nào đó mà thôi”.

- “Vậy thì nếu một sự vật nào đó tương tự với một hình thức, thì có thể rằng hình thức đó không giống với hình ảnh của nó không, ngay trong chừng mực mà hình ảnh này là bản sao chép của nó không? Hay có một xảo thuật nào đó có thể làm cho cái tương tự không tương tự như cái tương tự không?”

- “Thưa không hề có”.

- “Nhưng có tất yếu rằng cả cái tương tự với cái tương tự đó lại thông dự vào một cái gì đó của cái đơn nhất, đồng tính đối với cả hai không?”

- “Hoàn toàn tất yếu phải như thế”.

- “Nhưng cái gì nhờ đó những cái tương tự là tương tự chính vì sự kiện chúng thông dự vào đó có phải chính hình thức đó không?”

- “Tất phải”.

- “Vậy không thể hoặc là một cái gì khác lại tương tự như hình thức hoặc là hình thức lại tương tự như một cái gì khác được. Nếu không, bên ngoài hình thức ra, sẽ xuất hiện một hình thức khác, rồi, nếu hình thức khác này lại tương tự như một cái gì khác nữa, thì một hình thức mới nữa sẽ xuất hiện và sẽ không bao giờ kết thúc sự phát triển vô hạn những hình thức mới nếu hình thức lại trở thành tương tự với thành viên thông dự vào nó” [11].

- “Không gì đúng thực hơn điều ngài vừa nói”.

- “Vậy không phải bằng sự tương tự mà những thành viên thông dự vào những hình thức. Nên phải tìm cho ra một cách thức thông dự khác.”

- “Chắc thế”.

Hình như Parménide kết luận: - “Hỡi Socrate, chàng có thấy rằng theo danh nghĩa của những hình thức mà bó buộc phải ghi nhận những thực tại tồn tại tự nội một cách biệt lập như vậy, thì chúng ta đã đụng độ với biết bao chướng ngại không?”

- “Quả đúng, đó là những chướng ngại rất trầm trọng”.

Hình thức sẽ bất khả tri đối với con người

Hình như Parménide nói tiếp: “Nhưng chàng nên biết rằng: cho tới đây, có thể nói chàng vẫn chưa dự đoán được những chướng ngại đó là những chướng ngại nào và chúng trầm trọng đến mức nào, một khi đối với bất cứ thực tại nào mà chàng muốn quy định, dần dà, chàng lại muốn đặt ra một hình thức đơn biệt và đơn nhất”.

- “Những chướng ngại đó là những chướng ngại nào?” Hình như Socrate chất vấn.

- “Có rất nhiều, nhưng trầm trọng nhất là cái sau đây. Người ta có thể chủ trương rằng nếu được định nghĩa như chúng ta tưởng tượng thì những hình thức cũng không khả tri; và thuyết phục tác giả của một khẳng định như vậy rằng họ sai lầm là một điều không thể, nếu họ không đóng góp vào cuộc cãi vã một kinh nghiệm phong phú và một bản tính đầy năng khiếu; hơn nữa nếu họ không sẵn sàng theo đuổi một chứng minh phức tạp và được diễn dịch cặn kẽ từ những nguyên tắc xa xăm [12]. Nếu không, kẻ nào tự hào cưỡng bức được những hình thức cứ phải ở thế bất khả tri, thì kẻ đó vẫn duy trì được khả năng thuyết phục”.

Hình như Socrate hỏi: “Tại sao vậy, thưa ngài Parménide?”

- “Vì rằng chàng là người đầu tiên, Socrate, ta tưởng vậy, và bất cứ ai cùng với chàng lại gán cho cho mỗi thực tại, một hiện hữu đứng độc lập tự nội, thì các nhà ngươi sẽ phải bắt đầu công nhận rằng không một hiện hữu nào trong số đó lại ở trong con người chúng ta”.

- “Làm thế nào thực tại đó có thể như thế mà vẫn tồn tại tự nội?”. Hình như Socrate đã chất vấn lại.

- “Chàng nói đúng. Và tất cả những hình thức nào chỉ có thể là chúng như chúng là được là nhờ ở quan hệ hỗ tương, thì chỉ trong quan hệ đó mà chúng có tồn tại của chúng; nhưng không hề phải là trong một quan hệ nơi chúng ta có gì tương ứng với chúng, hoặc theo tư cách là những mô phỏng, hoặc theo bất cứ danh nghĩa nào khác và không phải rằng cái đó, một khi được chúng ta thông dự, lại có thể cho ta những danh xưng gốc song song của nó được. Rồi về phía chúng, những gì quan hệ nơi chúng ta, tức là những gì đồng âm với những danh xưng gốc ở trên, chúng cũng có tồn tại của chúng trong quan hệ tương hỗ đó, chứ không quan hệ gì với những hình thức; và tất cả những đồng âm của những hình thức đó chỉ lệ thuộc chúng mà thôi chứ không lệ thuộc những hình thức kia”.

- “Thưa ngài muốn nói gì?” Socrate thắc mắc.

- “Muốn nói rằng bất cứ ai trong chúng ta nếu là ông chủ hay là nô lệ cho một ai khác thì tất nhiên không phải là nô lệ cho ông chủ cao siêu tự nội, tức là ông chủ theo bản chất kia đâu. Cũng không phải khi là ông chủ thì là ông chủ tự nội của nô lệ tự nội, tức là nô lệ theo bản chất kia đâu. Nhưng theo tư cách là con người chỉ quan hệ với con người mà thôi trong cả hai trường hợp nói trên. Còn đối với tính ông chủ tự nội, thì nó chỉ là nó trong quan hệ với tính nô lệ tự nội; và cũng như thế, tính nô lệ tự nội chỉ là tính nô lệ của tính ông chủ tự nội mà thôi. Cho nên những thực tại nào thuộc trần thế của chúng ta thì không hề có tác dụng gì tới những thực tại trên cao kia và những thực tại trên đó cũng không hề có tác dụng gì với chúng ta cả. Ta lặp lại, những thực tại trên cao kia chỉ lệ thuộc chính chúng và chỉ quan hệ với nhau mà thôi, và những thực tại nơi trần thế của chúng ta cũng chỉ quan hệ giữa chúng với nhau mà thôi. Chàng có hiểu điều ta muốn nói không?”

- “Thưa hoàn toàn hiểu”. Hình như Socrate đáp.

- “Vậy tri thức tự nội, tri thức theo bản chất thì sẽ là tri thức về thực tại tự nội, tức là về chân lý theo bản chất đó thì sao?”

- “Dĩ nhiên”.

- “Vì vậy bất cứ một tri thức chủ yếu nào sẽ là tri thức về một tồn tại chủ yếu nhất định nào, có phải đúng thế không?” [13]

- “Đúng thế”.

- “Trái lại tri thức nơi trần thế của chúng ta sẽ là tri thức về chân lý của trần thế chúng ta và vì vậy bất cứ tri thức nhất định nào nơi trần chúng ta cũng sẽ là tri thức về một sự vật nhất định nào đó nơi trần thế của chúng ta sao?”

- “Tất nhiên”.

- “Nhưng theo sự thú nhận của chàng thì những hình thức tự nội không có nơi trần thế của chúng ta cũng không có khả năng tồn tại nơi trần thế của chúng ta”.

- “Vâng”.

- “Vậy tùy theo quy định của chúng mà tri thức có thể lãnh hội được những chủng loại chủ yếu tự nội. Tri thức ấy có phải hình thức tự nội tức là hình thức của tri thức không?”

- “Thưa phải”.

- “Hình thức của tri thức đó, chúng ta không hề có”.

- “Không hề”.

- “Vậy thì ít ra chúng ta, là những người không tri thức một hình thức nào trong số đó cả, vì chúng ta không hề tham dự vào tri thức tự nội”.

- “Hình như không”.

- “Vậy đối với chúng ta, đều là bất khả tri cả cái đẹp tự nội chủ yếu, cả cái tốt, và tất cả những gì chúng ta chấp nhận theo danh nghĩa những hình thức tự nội”.

- “Thực là kinh sợ”.

Thực tại của loài người sẽ bất khả tri đối với Thiên chúa

- “Nhưng sau đây còn một điều kinh khủng hơn nữa”.

- “Thưa điều gì thế?”.

- “Nếu có một chủng loại tự nội của tri thức, thì có thể nói rằng: cũng như cái đẹp và tất cả những chủng loại khác, thì chủng loại tri thức tự nội đó còn chính xác rất nhều hơn tri thức nơi trần thế của chúng ta”.

- “Phải”.

- “Vậy chỉ có thể gán cho mình Thiên chúa của sự chính xác tuyệt đối về tri thức đó, nếu đã phải công nhận rằng: tất cả mọi cái chỉ thông dự vào tri thức tự nội mà thôi, phải không?”

- “Tất nhiên”.

- “Vậy thì một sở hữu tri thức tự nội như thế có cho phép Thiên chúa nhận biết được những sự vật dưới trần thế của chúng ta không?”

- “Tại sao không?”

Parménide đáp: - “Vì một lý do tức nguyên lý đã được chúng ta công nhận rằng cả những hình thức ở trên cao kia cũng không có tác dụng gì trên những sự vật nơi trần thế của chúng ta, một tác dụng chỉ là tác dụng của riêng chúng; cả những sự vật nơi trần thế của chúng ta cũng không có tác dụng trên những hình thức; trái lại, bên này cũng như bên kia, chúng chỉ có tác dụng lẫn nhau trong mỗi lãnh vực riêng biệt mà thôi”.

- “Chúng ta quả đã công nhận như vậy”.

- “Vậy dầu rằng trong Thiên chúa có sự chính xác tuyệt đối về sự thống trị tự nội và có sự chính xác tuyệt đối về tri thức tự nội đi nữa, thì điều đó cũng không hề khiến cho sự thống trị của những ai trên cao kia lại thống trị được chúng ta hay tri thức của họ có thể biết được điều gì nơi trần thế của chúng ta bao giờ cả. Sự bất lực cũng như vậy đối với chúng ta và đối với những kẻ ở trên cao kia nghĩa là chúng ta không thể thống trị những ai ở trên cao kia bằng mệnh lệnh của chúng ta và cũng không thể nhận biết được gì cả về thần linh bằng tri thức của chúng ta; rồi những kẻ ở trên cao kia, cũng vì một lý do, không thể thống trị trên chúng ta hay nhận biết được những công việc của nhân thế, mặc dầu họ là những vị thần”.

Socrate phân vân: - “Lần này tôi e rằng trong luận chứng có gì kỳ dị quá đáng, khi không công nhận do Thiên chúa khả năng tri thức mọi sự”.

Parménide tiếp lời: - “Tuy nhiên đó lại là khó khăn và còn biết bao khó khăn khác bên ngoài chúng nữa vẫn gắn liền với những hình thức một cách không thể tránh khỏi, nếu những hình thức của các sự vật đều có hiện hữu riêng của chúng và nếu người ta chấp nhận mỗi hình thức như một thực tại tự nội tách biệt. Nói với ai như thế, chỉ phát động lên trong họ hoài nghi và mâu thuẫn; và họ sẽ từ chối không tin vào những hiện hữu như vậy; còn nếu phải cưỡng bức chấp thuận thì họ cũng tuyên bố chúng tất yếu bất khả tri đối với bản tính của con người. Nhưng những chất vấn như vậy chỉ đúng theo dáng vẻ bên ngoài, và, ta lập lại, thay đổi được sự xác tín của kẻ nào viện dẫn ra chúng là một việc cực kỳ khó. Kẻ nào nhờ giáo dục mà hiểu được rằng trong mỗi thực tại nhất định đều có một chủng loại, một tồn tại tự nội và tự thân, thì có lẽ kẻ đó là một trí óc dồi dào năng khiếu. Vậy thì có khả năng phát hiện được điều đó, hơn nữa, còn có khả năng giảng dạy nó cho những người khác và trước đó còn cảm nghiệm được mọi chi tiết của nó bằng một phê phán hoàn chỉnh nữa, thì còn phải có một năng khiếu kỳ diệu biết bao nữa!”

Socrate đã thỏa thuận: - “Thưa ngài Parménide, tôi hoàn toàn nhất trí với ngài, điều ngài vừa nói đó trùng hợp đúng với điều tôi nghĩ”.

Parménide tiếp: - “Hỡi Socrate, ngược lại hãy tưởng tượng rằng đứng trước những khó khăn ta vừa trình bày hay biết bao khó khăn khác tương tự, người ta cứ cố chấp từ chối không chấp nhận cho những hình thức của sự vật đó một sự tồn tại và người ta cứ từ chối không chấp nhận cho mỗi thực tại, một hình thức nhất định, thì không còn biết phải xoay chiều tư tưởng về đâu, vì người ta đã không muốn rằng hình thức đặc biệt của mỗi sự vật duy trì được tính đồng nhất thường xuyên; và như thế sẽ là tiêu diệt chính sức mạnh của phép biện chứng nữa. Đó là điều hình như hoặc thoạt tiên chàng đã cảm tưởng?”

- “Ngài nói đúng”. Hình như Socrate đã thú nhận.

- “Vậy chàng sẽ vận dụng triết lý như thế nào? Chàng sẽ phải hướng nhìn về đâu, nếu trước những vấn đề như thế, chàng không sao tìm ra được những giải pháp?”

- “Thưa, như tôi biết, tức là hiện giờ thì tôi không có một giải pháp nào trước mắt cả”.

Sự cần thiết phải thao luyện phép biện chứng

- “Chỉ vì rằng Socrate, chàng đã quá sớm nỗ lực định nghĩa cái đẹp, cái đúng, cái tốt và tất cả các hình thức từng cái một, mà không thao luyện trước. Điều đó chợt gợi lại trong trí óc ta, khi nghe chàng, mới hôm kia, chính nơi đây đã đàm đạo với Aristote đang hiện diện ở đây nè. Chàng nên biết chàng đã vươn tới những luận chứng với một khích lệ thật duyên dáng và kỳ diệu. Nhưng chàng hãy tập dượt, hãy thao luyện triệt để trong những thực tập đó, những gì xem ra không ích lợi gì cả và người thường gọi đó là những chuyện bà láp. Hãy tự thao luyện giỏi giang đang khi hãy còn trẻ, đừng để sự thật bay mất khỏi tầm tay.”

- “Nhưng thưa Parménide, công cuộc thao luyện đó phải như thế nào?”

Parménide đáp:

- “Điều Zénon đã đọc cho chàng sẽ chỉ dẫn mẫu mực về sự thao luyện đó. Tuy nhiên nơi ông ta thiếu mất điều làm ta say sưa nơi chàng, điều làm ta rất hài lòng khi nghe chàng tuyên bố với ông ta rằng ý muốn của chàng là không nên thả lỏng cho cuộc tìm kiếm lạc lõng vào những sự vật khả giác và coi chúng là những đối tượng của sự tìm kiếm đó, mà phải áp dụng vào nó những sự vật chủ yếu là những đối tượng của lý luận và theo đúng danh nghĩa nhất là những gì người ta gọi là những hình thức”.

- “Thực vậy, Socrate nói, tôi nghĩ rằng qua con đường thứ nhất, không có gì khó khăn cả, nếu phải thuyết minh rằng trong cùng những thực tại như nhau, cùng tồn tại tính tương tự và tính bất tương tự và những đối kháng khác”.

- “Tuyệt vời!” Parménide khen, “nhưng còn phải thực hiện một tiến bộ khác nữa, nghĩa là trong mỗi trường hợp, hãy giả định sự tồn tại của một đối tượng và nghiên cứu những gì là hệ luận của một giả thuyết như vậy chưa đủ. Vậy còn phải giả thuyết sự không tồn tại của cùng một đối tượng đó nữa, nếu chàng muốn đẩy lùi cuộc thao luyện tới cùng”. [14]

- “Ngài muốn nói gì ạ?”, hình như Socrate đã hỏi.

- “Hãy giả thiết chính giả thiết do Zénon đã nêu ra coi”, Parménide giải thích, “nghĩa là hoặc như trước hết, có đa thể, rồi hãy tìm kiếm xem những gì sẽ là hệ luận vừa đối với những cái nhiều trong quan hệ giữa chúng với nhau và trong quan hệ của chúng với cái đơn nhất, vừa đối với cái Đơn nhất trong quan hệ giữa chính nó với chính nó và trong quan hệ đối với cái nhiều; tiếp đó hoặc như không có đa thể, rồi cũng hãy cứu xét xem những gì sẽ là hệ luận vừa đối với cái Đơn nhất vừa đối với những cái nhiều hoặc trong quan hệ giữa cái Đơn nhất và cái Đơn nhất hoặc là trong quan hệ giữa cái nhiều với nhau. Bây giờ hãy lấy tính tương tự làm tỉ dụ hoặc như nó có hoặc như nó không có, thì những hệ luận sẽ như thế nào đối với giả thuyết trên và giả thuyết dưới vừa đối với những đối tượng trực tiếp của chúng vừa đối với tất cả những cái khác, hoặc trong chính chúng hoặc trong quan hệ giữa chúng với nhau. Rồi đối với tính bất tương tự, đối với im lìm và vận động, đối với sinh thành và tiêu diệt, đối với chính hữu thể và hư vô, cũng hãy giả thuyết như vậy đi. Nói tóm lại, đối với tất cả những gì mà chàng gán cho hoặc tồn tại hoặc không tồn tại hoặc bất kỳ đặc tính nào, cũng hãy cứu xét xem những hệ luận sẽ như thế nào trước hết là đối với đối tượng đã được đã được gán cho, tiếp đó là đối với những cái khác: trước hết là một cái nào đó tùy ý, sau là nhiều cái, sau cùng là tất cả. Rồi chàng cũng sẽ đặt cái khác trong quan hệ cả với chính mình cả với đối tượng mỗi lần được giả thiết, đối tượng mà chàng đã giả thiết là tồn tại hoặc không tồn tại. Như thế một khi đã hoàn toàn điêu luyện rồi, chàng sẽ tùy ý thao luyện để có khả năng chắc chắn biện biệt được sự thật.

Socrate đã nhận xét: - “Thưa Parménide tiên sinh, phương pháp ngài đề ra không phải để vận dụng, chính tôi cũng chưa lãnh hội được hoàn toàn. Tại sao ngài không thân hành thực hiện một chứng minh bằng một giả thuyết do chính ngài lựa chọn, nhờ đó có lẽ tôi sẽ hiểu ngài hơn?”

- “Socrate ơi, đó là một công trình vất vả chàng đòi hỏi đối với một người đã già cả như ta”, hình như Parménide đã than phiền như vậy.

- “Còn ngài, thưa tiên sinh Zénon, ngài có cống hiến chúng tôi được chứng minh đó không?”, hình như Socrate năn nỉ. Và hình như Zénon đã mỉm cười trả lời rằng: - “Socrate ơi, hãy yêu cầu chính Parménide đi, vì điều ông ta nói không phải chuyện dễ dàng. Công trình chàng yêu, chàng không thấy khó khăn sao? Nếu tập đoàn chúng ta đông hơn thế này thì quả không nên yêu cầu ông ta điều đó, vì thực không tiện tranh luận những vấn đề như thế trước một cử tọa đông người, nhất là như khi đã già cả. Sở dĩ người ta không bắt gặp được sự thật và cũng không nhờ đó có được trí thông minh là vì không bao giờ người ta đã dám thám hiểm vào con đường theo tất cả những chiều hướng có thể của chúng. Đó là những điều quần chúng không tài nào hiểu nổi. Vì vậy, thưa ngài Parménide tôi cũng nhất trí với lời yêu cầu của Socrate, để một lần nữa sau bao nhiêu năm trời, tôi lại có thể là một trong những thính giả của bài giảng của ngài”.

Zénon đã ngỏ lời như thế, và theo lời Antiphon, Pythodore kể lại rằng chính ông cùng với Aristote và những người khác cũng đã yêu cầu Parménide cống hiến một chứng minh về phương pháp do ông chủ xướng và đừng từ chối đặc ân đó.”

- “Vậy tôi có bổn phận phải phục tòng”, hình như Parménide đã đáp lễ, “tuy nhiên tôi vẫn e rằng trường hợp của tôi ở đây không khác trường hợp của chàng chạy đua Ibycos. Tuy là một kẻ chạy đua đã tiều tụy vì tuổi tác rồi, ông ta vẫn bị người ta cưỡng bức vào một cuộc chạy đua bằng chiến xa. Ông ta run sợ trước sự thử thách nhiều lần, đã phải chạm chán với. Tự so sánh mình với chàng, bậc thầy của chàng đã phải than phiền rằng: - “Ta cũng vậy, thực là miễn cưỡng khi từng này tuổi rồi vẫn còn nhìn thấy mình bị cưỡng bức vào con đường tình” [15]. Đến lượt tôi cũng vậy khi hồi nhớ lại câu chuyện đó, tôi cũng tự cảm thấy sợ hãi sâu xa rằng già từng tuổi này rồi mà còn phải nghĩ tới việc làm thế nào bơi qua được cả một trùng dương ngôn từ vừa cực nhọc vừa mênh mông như thế. Tuy nhiên tôi cũng sẽ cố gắng, vì tôi có bổn phận phải làm hài lòng quý vị, nhất là như Zénon đã nói, chúng ta hiện đang sống trong vòng thực thân mật. Vậy chúng ta sẽ khởi sự từ đâu và sẽ lấy cái gì làm giả thuyết đầu tiên đây? Một khi đã chấp nhận cuộc chơi đau đầu này rồi, quý vị có nhất trí để tôi thân hành bắt đầu và bằng chính giả thuyết của tôi không, nghĩa là một khi đã giả định về cái Đơn nhất tự nội, hoặc là nó là Đơn nhất, hoặc là nó không là Đơn nhất thế rồi tôi sẽ cứu xét những hệ luận của chúng như thế nào?”

Hình như Socrate phát biểu: - “Chúng tôi hoàn toàn nhất trí”.

Hình như Parménide đòi hỏi: - “Vậy ai sẽ đối đáp với tôi đây? Hay là người nào trẻ nhất? Chính người ấy sẽ là người ít bị đẩy tới chỗ lạc lõng vào những chuyện phức tạp vô ích và sẽ trả lời điều họ suy nghĩ một cách giản đơn nhất. Đồng thời những câu trả lời của người ấy cũng sẽ cho phép tôi đôi khi được nghỉ xả hơi một chút”.

- “Thưa tiên sinh Parménide, tôi đây sẵn sàng đóng vai đó”, hình như Aristote ân cần đáp, “vì chính khi chỉ định người nào trẻ tuổi nhất, ngài hẳn đã ngụ ý tôi rồi. Vậy xin ngài cứ chất vấn, tôi xin đối đáp”.

(xem tiếp phần 2)

LÊ TÔN NGHIÊM dịch


Nguồn: Platon. Oeuvres complètes. Traduction nouvelle et notes par Léon Robin. Gallimard. 1950. Phiên bản điện tử tiếng Việt do bạn Nguyễn Văn Sướng thực hiện



[1] Danh xưng gán cho những thành viên của một hội đồng chính trị thiểu số do những người Spartiates áp đặt trên những người Athéniens, sau khi đại tướng Lysandre đã chiếm đóng đô thị của họ. Hội đồng này đã khét tiếng là một chế độ chuyên chính kỳ quái và đã bị Thrasybule trục xuất. Critias và Théramène là những thành viên nổi tiếng nhất (chú thích của người dịch – Lê Tôn Nghiêm).

[2] Tức là nếu có nhiều sự vật khác nhau và khác nhau muôn vẻ chứ không phải chỉ duy nhất có cái một; đó là vấn đề muôn thuở của triết học duy tâm thường được gọi là vấn đề cái một và cái nhiều, ở đây chúng tôi dịch là cái Đơn nhất và cái đa tạp (chú thích của người dịch - Lê Tôn Nghiêm).

[3] Không có nhiều sự vật khác nhau, mà chỉ có một, ngoài ra không có gì khác (chú thích của người dịch - Lê Tôn Nghiêm).

[4]  Học thuyết của Parménide thường được gọi là chủ thuyết Éléatisme thì chủ trương rằng: toàn thể vạn vật tuy phức tạp nhưng chung qui chỉ là một. Cùng một chủ trương đó đã được Zénon trình bày lại, nhưng dưới một hình thức tranh biện (éristique) theo đó, không có vạn vật đa tạp. Suy cho cùng cả hai hình thức đó đã cấu kết nên một khối đặc kiên cố mà ở đây Platon muốn phân tán. Vì vậy ở đây Socrate mới bắt đầu bằng cách áp đảo Zénon phải thú nhận rằng: trong trường phái Élée, vai trò của ông chỉ là vai trò thứ yếu và tác phẩm của ông chỉ là một tác phẩm nhất thời.

[5] Đây là hình thức lý thuyết thuần túy của Platon. Trái lại học thuyết Platon do Aristote trình bày và phê phán sau này (trong Métaph. 990a 34 – 991 a8 và 1978b 32 – 1079 b10) sẽ loại trừ ra khỏi thế giới những ý tưởng, tất cả những gì gọi là những tính phủ định, những tính khiếm khuyết, những tính quan hệ, những sự vật giả tạo và cả những gì trong đó có cái đi trước và cái đến sau (Xem L. Robin. La Theorie platonicienne des Idées et des Nombres d’après Aristote, p. 121-198). Hơn nữa, học thuyết Platon trung dung và học thuyết Platon mới sẽ còn loại trừ thêm khỏi thế giới những ý tưởng, những sự vật dơ bẩn hay đối nghịch với bản tính tự nhiên (như tóc, bùn, v.v…).

[6]  Đây là lời tuyên bố chống lại mọi chủ trương loại trừ hay hạn chế nào bất cứ, đối với thế giới những ý tưởng. Nói khác, ở đây Platon muốn chủ trương phải chấp nhận cho bất cứ sự vật gì tốt đẹp hay xấu xí đều có một hình thức tự nội, biệt lập, không loại trừ sự vật nào cả (chú thích của người dịch – Lê Tôn Nghiêm).

[7]  Cùng một lập luận và cùng một phát biểu nơi Aristote (Métaph. 1039 a 33 – b2). Nếu sinh vật là một chủng loại một và đồng tính trong phân loại người và trong phân loại vật “thì làm thế nào cái Đơn nhất (kiểu như một chủng loại cũng là một và đồng tính như vậy) lại có thể là một (khi nó hiện diện) trong những sự vật tách biệt được, và cái gì sẽ có thể ngăn cản được rằng chủng loại sinh vật đó cũng có thể tách biệt được với chính nó nữa?”.

[8] tức là trên nhiều đơn vị khác nhau (chú thích của người dịch – Lê Tôn Nghiêm).

[9] Cả Platon cả những triết gia Pythagoriciens “đều đã từ chối không nghiên cứu xem sự thông dự hay sự rập khuôn đó hệ tại cái gì” (Aristote, Métaph, 987b13).

[10]  Trên đây là một hình thức của luận chứng về đệ tam nhân “Người ta còn trình bày luận chứng (về đệ tam nhân nữa) như sau: nếu điều được khẳng định về nhiều sự vật đồng thời lại tách biệt với chính những sự vật tách biệt ấy và tự nó tồn tại được thì sẽ có, bên ngoài con người tách biệt với những cá thể mà tách biệt với hình thức. Và cũng sẽ có một con người thứ tư, rồi một con người thứ năm và cứ như vậy đến vô hạn” (Alexandre, in Métaph. 990n15 p. 83, Haydruck).

[11]  Cùng một hình thức sẽ vừa là nguyên nhân vừa là hình ảnh” (Aristote, Métaph. 991a31).

[12]  Hãy so sánh với ý niệm “công phu vất vả”, “con đường dài dòng” của đối thoại République 549b, Phedre 273-24.

[13]  Ở đây Platon chỉ áp dụng lý thuyết riêng về quan niệm của ông thôi; đối chiếu République 438c “Nhận thức tự nội là nhận thức về đối tượng tự nội nghĩa là mỗi khoa học nhất định là khoa học về một đối tượng nhất định”.

[14] Quyển Topiques của Aristote (101 a, 34-36; 163a, 36-163b, 16) sẽ khuyến khích phương pháp này vừa như một thao luyện biện chứng vừa như công cụ cho công trình nghiên cứu khoa học. Giữa quyển Topiques và quyển Parménide ở đây, còn thấy hơn cả một “sự tương tự” như Alexandre đã ghi nhận (In Topic., p.20, Wallies), nhiều khi trái lại còn thấy cả những lối hành văn song song giống hệt nhau nữa, như H. Maier đã nhấn mạnh (Die Syllogistik des Aristoteles. II, 2, p. 51, n. 1).

[15] Theo Croiset (hist. de la littér, grec. II, p. 334) sau đây là bản dịch của tản văn của Ihycos (frgt 2 de Bergk) được Platon trích dẫn ở đây: “bằng con mắt đen nháy, một lần nữa, Eros lại phóng một cái nhìn ẩm ướt và hàng ngàn cạm bẫy tìm cách đẩy tôi vào những mắt lưới chi chít không thể trốn thoát được của Krypris; nhưng khi bước tới gần đó, tôi đã run sợ không khác gì chàng chạy đua, ngày xưa đã từng chiến thắng trong những cuộc đấu bằng chiến xa, nhưng ngày nay về già rồi chỉ còn miễn cưỡng tham gia cái nghề phải thi đua chạy chiến xa mau lẹ”.

 

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: phucdh@triethoc.edu.vn hoặc phuongcn@triethoc.edu.vn
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt