Triết học xã hội

Việc hình thành luật

 

VIỆC HÌNH THÀNH LUẬT

1

2

3

4

5

6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MORTIMER J. ADLER

PHẠM VIÊM PHƯƠNG dịch

 


Mortimer J. Adler.  Cùng suy nghĩ về những ý niệm lớn. Phạm Viêm Phương và Mai Sơn dịch. Nes Education & Nxb. Hồng Đức, 2019, tr. 374-384. | Phiên bản bài viết này đăng triethoc.edu.vn đã được sự cho phép của dịch giả Phạm Viêm Phương.


 

 

Hôm nay chúng ta sẽ nghĩ về vấn đề luật của con người được tạo ra như thế nào. Và, tất nhiên, chúng ta chỉ có thể thảo luận về cách thức con người tạo ra luật với những thứ luật nằm trong quyền hạn tạo tác của con người. Như chúng ta đã thấy tuần trước, không phải mọi thứ luật mà chi phối con người đều thuộc loại này. Một số luật không do con người tạo ra mà được họ phát hiện: luật tự nhiên, được phát hiện bởi con người khi họ khảo sát bản chất của chính mình. Một số luật được con người tiếp nhận, như luật thần thánh họ nhận được qua mặc khải của Thượng Đế.

Hai buổi thảo luận trước của chúng ta về luật có quan hệ trực tiếp tới vấn đề của ngày hôm nay. Việc chúng ta xem xét cách thức con người làm ra luật chắc chắn chịu ảnh hưởng của hai quan điểm trái ngược nhau về luật của con người, một bên là, liệu luật có dựa trên lý trí hay không, và bên kia, hoặc nó bị áp đặt bởi ý chí của những người có quyền thực thi pháp luật. Cuộc khảo sát của chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi hai quan điểm này về mối liên quan giữa luật của con người, tức luật thực định, với luật tự nhiên – quan điểm cho rằng luật thực định ít nhiều cũng bắt nguồn từ luật tự nhiên chống lại quan điểm rằng luật thực định không liên quan đến luật tự nhiên (quan điểm của những người hoặc phủ nhận rằng thực sự có một luật tự nhiên hoặc nhất định rằng nếu có một luật tự nhiên thì nó không có liên quan gì đến việc tạo ra luật thực định).

Các câu hỏi mà chúng tôi nhận được sau hai buổi thảo luận trước có thể rất hữu ích cho việc bắt đầu buổi thảo luận hôm nay. Lloyd, ông đọc giùm một hoặc hai câu hỏi mà tụi mình đã chọn cho buổi nay được không?

 

Lý do chúng ta cần luật

Lloyd Luckman: Vâng, xét theo thực tế rằng ông sẽ xem xét việc tạo ra các luật của con người, nên tôi nghĩ câu hỏi thích hợp nhất là câu của Frank Milligan ở phố Baker của San Francisco. Và ông ấy viết, “Dĩ nhiên, đây là lý thuyết thuần túy, nhưng nếu Mười điều răn được mọi người tôn trọng và tuân thủ, liệu ta có cần thêm luật nào không?” Tôi thấy ông Milligan chỉ yêu cầu ông nói cho chúng tôi biết tại sao con người làm luật, trước khi ông luận giải chuyện luật được làm ra như thế nào.

Mortimer Adler: Thưa ông Milligan, câu hỏi “tại sao” chắc chắn xuất hiện trước câu hỏi “như thế nào”. Nhưng như tôi thấy, ông Milligan, chính câu hỏi của ông lại chứa sẵn một phần của câu trả lời. Đó là những gì chứa trong từ “nếu” mà ông dùng. Nếu mọi người tôn trọng và tuân thủ luật thần thánh. Điều đó giống như nói rằng nếu mọi người đều là thánh. Nó giống như nói, như chúng ta đã thấy khi thảo luận về chính quyền, nếu mọi người đều là thiên thần, thì không có chính quyền nào là cần thiết. Nhưng Alexander Hamilton biết rằng mọi người không phải là thiên thần và tôi chắc chắn ông cũng biết, ông Milligan à, rằng sự giả định rằng mọi người đều là thánh, rằng mọi người đều tuân theo luật thần thánh một cách hoàn hảo, là một giả định trái ngược với thực tế. Và bởi vì đó là một giả định trái với thực tế nên ông có lý do cho luật của con người: luật của con người là cần thiết bởi vì mọi người không tuân thủ hoặc tôn trọng luật thần thánh.

Cũng xin nói thêm, đó là câu trả lời mà một nhà thần học vĩ đại đã đưa ra khi chính ông ta đặt ra câu hỏi tại sao thật có ích khi con người đặt khung luật lệ dựa theo thực tế rằng Thiên Chúa đã ban Mười điều răn cho con người. Trong một câu hỏi được diễn đạt theo cách đó, liệu có ích gì không khi luật pháp được con người khuôn định, Aquino nói, “Vì một số người bị cho là suy đồi và dễ rơi vào thói xấu và không dễ dàng cải huấn bằng lời nói, nên họ cần được kềm hãm khỏi thói xấu bằng vũ lực và sự sợ hãi để ít nhất họ có thể tự giữ mình không làm điều xấu và để cho người khác được yên ổn. Và bản thân họ, khi sống quen theo cách này, có thể dần có khả năng tự nguyện làm những việc mà cho đến nay họ vẫn làm vì sợ hãi và do đó trở nên có đạo đức.”

Nhưng đó không phải là lý do duy nhất. Trên thực tế, đó không phải là lý do sâu xa hay sâu xa nhất cho nhu cầu cần có luật con người. Có một lý do sâu xa hơn. Cho dù ông có thể giả sử rằng mọi người đều hoàn toàn tuân thủ Mười điều răn của luật thần thánh, thì vẫn có nhu cầu về luật của con người. Để xem tôi có thể cho ông thấy vấn đề này theo hai cách không, ông Milligan. Đầu tiên, chúng ta hãy lấy điều răn “Ngươi chớ trộm cắp.” Người ta trộm cắp theo nhiều cách. Có nhiều hình thức trộm cắp. Chúng có phải là trộm cắp như nhau không? Có vụ trộm cắp nghiêm trọng nhiều và trộm cắp nghiêm trọng ít hơn phải không? Tất cả có nên bị trừng phạt giống nhau không? Những câu hỏi thuộc loại này được trả lời bằng luật của con người, chứ không phải bằng luật thần thánh.

Rồi hãy nghĩ về thực tế này, ông Milligan: luật thần thánh – và, thực ra, cả luật tự nhiên – không dự trù các điều lệ giao thông, không có các quy định giao thông. Và tôi chắc chắn dù đi bộ hay lái xe hơi ông vẫn nhận ra nhu cầu sâu xa cần có luật giao thông. Đây là một lý do khác giải thích sự tiện dụng của luật con người bên cạnh luật thần thánh hay luật tự nhiên, cho dù mọi người đều tuân thủ cả hai.

Lloyd Luckman: Này, Tiến sĩ Adler, nếu ông có thể tạm rời cuộc thảo luận về câu hỏi của ông Milligan để quay lại với cuộc thảo luận hồi hai tuần trước khi ông nói rằng Thẩm phán Holmes đã có một quan điểm về bản chất của luật vốn đồng ý với quan điểm của Ulpian, cụ thể là, bất cứ điều gì làm vui lòng quân vương đều có sức mạnh của pháp luật. Hay nói cách khác, luật là biểu hiện của quyền lực hơn là lý trí. Tôi nghĩ rằng lập luận này hay bữa thảo luận đó có thể đã khơi ra câu hỏi sau của ông Pat Frane. Ông Frane là đại diện đặc biệt của Sở Tư pháp California có văn phòng ngay tại San Francisco đây. Và ông Pat Frane muốn ông bình luận về nhận xét của Oliver Wendell Holmes rằng luật không phải là luận lý mà là kinh nghiệm.

Mortimer Adler: Ông Frane, theo tôi nhớ chính xác thì Thẩm phán Holmes nói rằng, “Đời sống của luật pháp không có tính luận lý; nó là kinh nghiệm,” điều đó nhắc tôi nhớ tới một phát biểu khác của Thẩm phán Holmes, vốn cho rằng trong nghiên cứu luật, một trang lịch sử có giá trị bằng cả một cuốn luận lý học.

Cả hai nhận xét này đều đúng một phần nào đó, vì chắc chắn sự phát triển của luật không phải là công trình thuần túy của lý trí. Nó phát triển từ kinh nghiệm xã hội của chúng ta, nó được hoàn thiện bởi những nỗ lực của chúng ta nhằm sống chung với nhau một cách thành công và hiệu quả, và quả thực rằng để hiểu được các chi tiết cụ thể của luật như nó hiện nay, chúng ta phải nhìn vào lịch sử; luận lý thuần túy sẽ không giải thích được luật. Cho đến đây thì Thẩm phán Holmes nói đúng. Nhưng tôi nghĩ ông ta có thể sai nếu ông ta có ý muốn nói rằng luận lý, tức khía cạnh thuần lý của luật pháp, hoàn toàn không liên quan đến thực chất của nó.

Bây giờ cả hai câu hỏi này, của ông Milligan và của ông Frane, dẫn chúng ta tới ngay trọng tâm của cuộc thảo luận hôm nay. Và tôi nghĩ rằng chúng sẽ được trả lời đầy đủ hơn khi chúng ta xem xét việc tạo ra luật con người. Do đó, Lloyd à, ông tạm hoãn các câu hỏi khác cho đến khi chúng ta đi xa hơn một chút được không?

Bây giờ chúng ta hãy xem xét lại nền tảng cho cuộc thảo luận hôm nay, bằng cách nhắc lại với nhau hai quan điểm về bản chất của luật con người và về hai quan điểm về chuyện luật thực định có liên quan thế nào với luật tự nhiên. Trước hết, ta có luật đạo đức tự nhiên. Và sau đó có hai quan điểm về luật thực định: quan điểm xem luật thực định là có nền tảng hợp lý trong luật tự nhiên và quan điểm xem luật thực định là không có liên quan đến luật đạo đức tự nhiên, mà chỉ đơn giản là do ý chí quyết định và cưỡng bách thi hành.

Luật tự nhiên không là gì cả mà chỉ là một biểu hiện của chính lý trí. Ở thái cực kia, luật thực định, nhìn từ quan điểm thực định, chỉ đơn giản là một cái gì đó do ý chí áp đặt và không có liên quan đến lý trí. Tuy nhiên, luật thực định, khi nó được xem là đặt nền tảng hợp lý trong luật tự nhiên, được coi là một cái gì đó, tuy căn cứ vào lý trí, vẫn phải được thiết lập bởi ý chí.

Luật đạo đức tự nhiên bao gồm các nguyên tắc hoặc tiêu chuẩn về công bằng. Ở cực đối lập, luật thực định – được một nhà thực định xem chỉ như một cái gì đó do ý chí quyết định và cưỡng bách thi hành – sẽ không bị coi là công bằng hoặc bất công mà chỉ là có lợi ít hay nhiều thôi. Trong khi đó, luật thực định, nhìn từ quan điểm của luật tự nhiên như một cái gì đó căn cứ vào luật tự nhiên, thì vừa công bằng ít hoặc nhiều vừa có lợi ít hay nhiều luôn.

 

Cách thức luật dẫn ta tới tuân thủ

Cuối cùng, chúng ta hãy xem xét ba điều này theo cách chúng ràng buộc hoặc đòi hỏi sự vâng lời của con người. Luật đạo đức tự nhiên chỉ ràng buộc con người qua lương tâm. Ở cực đối lập, luật thực định, theo một quan điểm thuần túy thực định chỉ ràng buộc bằng lực cưỡng chế thôi. Nhưng nếu bạn nhìn vào luật thực định không theo cách cực đoan đó mà như một cái gì đó được căn cứ một cách hợp lý vào luật tự nhiên, bạn sẽ thấy rằng nó ràng buộc bằng cả lương tâm cũng như bằng lực cưỡng chế.

Bây giờ tôi muốn nêu thêm ba bình luận nữa. Trước hết, bạn có thể thấy rằng quan điểm “tự nhiên” về luật thực định như một điều gì đó khác biệt với luật tự nhiên, mặc dù có điều gì đó được căn cứ vào đó, đã đặt nó vào giữa luật tự nhiên ở cực bên này và luật thực định, xem xét một cách thuần túy thực định, ở cực bên kia. Một mình luật tự nhiên, được xem theo cách “tự nhiên chủ nghĩa”, chỉ ràng buộc qua lương tâm. Luật thực định, được nhìn từ góc độ thực định chủ nghĩa, ràng buộc chỉ bằng một mình lực cưỡng chế thôi. Luật thực định, được xem ít nhiều bắt nguồn từ luật tự nhiên, ràng buộc bằng cả hai cách. Giống như luật tự nhiên, nó ràng buộc bằng lương tâm. Và nó cũng giống luật thực định, chỉ ràng buộc bằng lực cưỡng chế thôi.

Bình luận thứ hai của tôi là, tôi có thể đã cho bạn một ấn tượng sai lạc vào tuần trước khi tôi so sánh luật thực định với luật tự nhiên. Vì trong so sánh đó, tôi đã sử dụng một khái niệm về luật thực định vốn coi nó như một cái gì đó bắt nguồn từ luật tự nhiên. Một sự tương phản sắc nét hơn giữa luật thực định và luật tự nhiên được đưa ra từ quan điểm thực định, vốn nhìn luật thực định như một cái gì đó không liên quan đến, không có nối kết gì với luật tự nhiên.

Lloyd Luckman: Bây giờ những gì ông vừa nói, Tiến sĩ Adler, tôi nghĩ, giải thích được cho câu hỏi sau đây mà chúng ta nhận được từ Cha Frank J. Buckley, Dòng Tên, của trường Dự bị Đại học Bellerman tại San Jose. Cha Buckley hỏi ông, “Làm thế nào nhà nước có thể ban hành các luật thực định mà không ràng buộc qua lương tâm? Nếu chính bản chất của luật liên quan đến lợi ích chung thì tôi thấy có vẻ như qua sự kết nối của nó với lợi ích chung mỗi luật đều ràng buộc qua lương tâm.”

Mortimer Adler: Nó tùy thuộc vào Cha chọn quan điểm nào về luật thực định, Cha Buckley ạ. Tôi đoán là cha chọn quan điểm mà tôi gọi là lập trường trung dung, vốn xem luật thực định như được bắt nguồn từ luật tự nhiên. Và nếu cha chọn quan điểm đó, vậy là cha nghĩ về luật thực định như được hướng tới lợi ích chung và ràng buộc bằng cả lương tâm lẫn lực cưỡng chế. Nhưng ở quan điểm ngược lại vốn là quan điểm mà cha không xét tới lúc này, quan điểm xem luật thực định không liên quan gì với luật tự nhiên, các luật chỉ ràng buộc bằng lực cưỡng chế vì chúng có sức mạnh của pháp luật cho dù chúng có hướng tới lợi ích chung hay không, có công bằng hay không.

Nhận xét thứ ba của tôi về nền tảng mà chúng ta vừa bàn đến là: trên quan điểm thực định cực đoan về luật thực định, ta không có vấn đề gì về cách làm ra luật của con người; điều kiện duy nhất cần thiết cho việc làm ra luật của con người là sức mạnh để thực thi chúng. Chỉ trên quan điểm kia vốn xem luật thực định, luật do con người làm ra, là ít nhiều bắt nguồn từ luật tự nhiên thì chúng ta mới phải đối mặt với câu hỏi, Nó bắt nguồn từ luật tự nhiên như thế nào? Làm thế nào trong việc làm ra luật của con người mà những quy tắc ấy lại bắt nguồn từ các nguyên tắc của luật tự nhiên? Đó là câu hỏi mà tôi sẽ cố gắng trả lời.

 

Luật thực định bắt nguồn từ luật tự nhiên như thế nào?

Và khi tôi bắt đầu trả lời câu hỏi này, tôi muốn cảm thấy rằng tất cả các bạn chia sẻ với tôi một giả định nào đó ít nhất là vì các mục đích của cuộc thảo luận này. Tôi muốn tất cả các bạn đồng ý với tôi giả định rằng tuyên bố truyền thống về nguyên tắc đầu tiên của luật tự nhiên, châm ngôn đầu tiên của lý do thực tế là một tuyên bố chính xác về nó. Đôi khi nó được phát biểu là “Tìm kiếm cái tốt và tránh cái xấu.” Hoặc đôi khi là, “Hãy làm việc tốt, không làm hại ai, đưa về cho mỗi người những gì họ đáng hưởng, những gì thuộc về họ, của riêng họ.”

Câu hỏi đặt ra là, các quy tắc ứng xử khác được rút ra từ nguyên tắc đầu tiên này, quy tắc ứng xử khái quát nhất này, như thế nào? Câu trả lời có vẻ là: theo hai cách. Thứ nhất, bằng suy diễn; thứ hai, bằng xác định. Hãy để tôi minh họa hai cách này. Bất kỳ người nào biết suy nghĩ, khi xem xét mệnh lệnh, “Đừng làm hại ai,” chắc chắn có thể kết luận rằng mình không nên ăn cắp những gì thuộc về người khác hoặc không nên giết người khác, đoạt mạng sống của người ta. Kết luận rằng giết người là sai hoặc ăn cắp là sai là một kết luận mà bất kỳ ai cũng có thể rút được cho mình. Đó là một suy luận đơn giản của lý trí từ nguyên tắc đầu tiên này, “Đừng làm hại ai hoặc để người ta sở hữu những gì thuộc về họ.” Và những quy tắc như, “Đừng giết người, đừng ăn cắp của người,” do đó thường được gọi là các giới luật thứ cấp của luật tự nhiên.

Làm thế nào để chúng ta đi xa hơn điều đó? Làm thế nào để chúng ta đi xa hơn những giới luật thứ cấp này? Không phải bằng cách suy luận. Theo nghĩa này, Oliver Wendell Holmes đã đúng; luận lý sẽ không làm điều đó, nhưng bằng xác định, bằng cách làm cho những giới luật thứ cấp như “Chớ giết người, chớ trộm cắp,” mang tính xác định hơn nhiều.

Để giải thích thêm về điều này, tôi sẽ dẫn ra đây bộ luật hình sự California. Trong bộ luật hình sự của California, chúng ta tìm thấy một loạt các mục xử lý các loại trộm cắp khác nhau. Ví dụ, cướp là một loại trộm cắp. Nó không giống như đột nhập ban ngày hoặc lẻn trộm ban đêm. Nó cũng không giống như giả mạo và làm đồ giả. Những việc này cũng không giống như ăn cắp hoặc ăn trộm, cả trộm cắp vặt hoặc trộm cắp lớn. Và những việc đó lại còn khác với biển thủ và tống tiền và các giao dịch gian lận hoặc lừa gạt. Luật hình sự California định nghĩa cả một lô một lốc những loại trộm cắp cụ thể khác nhau. Và qua việc định nghĩa các loại trộm cắp khác nhau này, nó bổ sung các xác định cho quy tắc của luật tự nhiên vốn bảo rằng “Chớ trộm cắp.”

Ta hãy cùng xem một phần của bộ luật này. Hãy xem phần nói về ăn cướp. Khi xem phần này, để tôi đọc cho bạn nghe định nghĩa về ăn cướp do luật hình sự đưa ra. Nó nói, “Tội cướp được xác định. Cướp là hành vi tước lấy tài sản cá nhân thuộc sở hữu của người khác, từ bản thân người đó hoặc trước sự hiện diện trực tiếp của người đó và ngược lại ý muốn của người đó, được thực hiện bằng vũ lực hoặc sự tán đồng.”

Đó là điều mà luật do con người làm ra bổ sung vào luật tự nhiên. Và nếu bây giờ bạn xem đoạn còn lại của phần đó – hãy quay lại bộ luật đó một lúc và xem đoạn còn lại của phần nói về tội cướp; nó bao gồm đoạn in chữ thường mà tôi sẽ đọc cho các bạn nghe. Phần đầu tiên là hành vi cướp được định nghĩa và sau đó nó nói tiếp về các mức độ cướp, loại hình sợ hãi vốn có thể là một yếu tố trong vụ cướp, và hình phạt cho tội cướp. Trong thực tế, nếu tôi mở bộ luật và đọc những phần đó cho các bạn nghe, các bạn sẽ thấy rằng ta có tội cướp cấp độ một và cấp độ hai tùy theo có sử dụng vũ khí chết người trong khi tiến hành cướp hoặc làm việc trộm cắp hay không. Nếu không sử dụng vũ khí, bạn có tội cướp cấp độ hai. Và hình phạt được định nghĩa hoặc xác định theo đó. “Tội cướp”, luật nói, “có thể bị phạt giam giữ trong nhà tù tiểu bang như sau: cướp ở cấp độ một không dưới năm năm, ở cấp độ hai không dưới một năm.”

Nói cách khác, những gì bạn thấy từ ví dụ này là việc xác định các loại trộm cắp rồi đến việc xác định các phương thức trừng phạt cụ thể cho các loại trộm cắp khác nhau này. Hai loại xác định trên là cách thức mà luật con người bổ sung một cái gì đó vào luật tự nhiên và cũng là cách thức mà luật con người được rút ra từ luật tự nhiên.

 

Luật tự nhiên ra lệnh, luật thực định định nghĩa

Xin lưu ý một điều khác. Luật hình sự không nói với bất cứ ai rằng, “Đừng trộm cắp.” Nó chỉ định nghĩa các loại trộm cắp và gắn cho mỗi loại trộm cắp một độ nghiêm trọng cụ thể hoặc một mức độ trừng phạt. Điều đó rất quan trọng bởi vì ta thấy cứ như luật hình sự để lại trong lương tâm của con người một hiểu biết về thực tế rằng anh ta không nên ăn cắp. Luật tự nhiên bảo, “Đừng trộm cắp.” Còn luật hình sự chỉ định nghĩa các loại trộm cắp và xác định các mức hình phạt cụ thể cho từng loại trộm cắp khác nhau.

Những gì tôi vừa trình bày với các bạn về vấn đề trộm cắp thì cũng đúng với mọi khía cạnh khác của luật thực định. Nếu bây giờ – tuy không có thời gian để đi vào chi tiết – tôi chuyển sang luật về tội sát nhân, bạn có thể thấy rằng điều răn của luật tự nhiên, “Chớ giết người,” cũng được chia nhỏ thành một loạt các định nghĩa về tội giết người cấp độ một, giết người cấp độ hai, và nhiều loại tội sát nhân khác nhau, và tất cả những loại đó lại được phân biệt với giết người hợp pháp hoặc giết người có thể miễn thứ, giết người trong tình tiết giảm nhẹ.

Và không chỉ luật hình sự mới làm điều này. Ví dụ, hãy xem hệ thống luật hợp đồng, một bộ phận lớn trong luật dân sự. Toàn bộ phận luật dân sự chi phối các hợp đồng giữa cá nhân và công ty bao gồm những xác định cho một nguyên tắc của luật tự nhiên, nguyên tắc mà bạn hiểu là “Hãy giữ lời hứa, nếu bạn không giữ lời hứa của mình, những người tin cậy vào đó, những người khác dựa vào đó, sẽ bị thiệt hại.” Luật dân sự về hợp đồng bao gồm việc xác định trong các điều kiện nào thì ta có thể tin cậy vào hợp đồng. Hợp đồng được soạn thảo thế nào? Các hình phạt cho việc phá vỡ hợp đồng là gì? Tất cả những điều đó là một tập hợp các xác định cho nguyên tắc đơn giản “Hãy giữ lời hứa”, vốn là một nguyên tắc của luật tự nhiên.

Tôi nghĩ qua các ví dụ này các bạn có thể thấy rằng các nguyên tắc của luật tự nhiên giống như các nguyên lý phổ quát bất biến nằm bên dưới mọi xác định cụ thể của các hệ thống luật khác nhau của luật dân sự; vì luật của California thì khác về một số khía cạnh so với luật của 47 khu vực tài phán khác ở Mỹ và so với các khu vực tài phán nước ngoài. Và tôi cũng nghĩ rằng bạn có thể thấy điều này trả lời như thế nào cho một câu hỏi được nêu ra – tôi nhớ là tuần trước, phải không Lloyd, bởi bà Lucille McGovern, khi bà hỏi về mối quan hệ giữa đạo đức với pháp luật. Bà ấy hỏi, “Nội dung đạo đức của luật pháp là gì?”

Và câu trả lời cho câu hỏi đó, bà McGovern, tôi nghĩ bây giờ tôi có thể làm rõ hơn so với tuần trước; vì nội dung đạo đức của pháp luật xuất phát từ những nguyên tắc của luật tự nhiên vốn nằm trong các xác định do luật thực định đưa ra. Các xác định do luật thực định đưa ra là những điều mà tự chúng rất vô tư, trung lập. Các bang khác nhau có thể xác định ăn trộm là gì, ăn cướp là gì, làm giả là gì, biển thủ là gì, và quy định khối lượng hình phạt khác nhau cho các tội ấy. Khi ta đánh giá cái gì đó theo mức độ hiệu quả của nó thì điều đó không phải là đạo đức; nó chỉ mang tính thực tế hoặc tiện lợi thôi. Nhưng việc cướp bóc hoặc trộm cắp thì nên bị cấm và ăn trộm nên bị trừng phạt và các cấp độ trộm cắp khác nhau sẽ bị trừng phạt tương ứng với độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội hoặc mức nặng nhẹ của hành vi phạm tội, đây là một phần của công lý, đây là khía cạnh đạo đức của luật thực định.

Lloyd Luckman: Tôi có một câu hỏi ngay đây, Tiến sĩ Adler. Còn về những chuyện như luật giao thông chẳng hạn, thì sao? Trên đời này thì cái gì thực sự là đúng hay sai trong việc lái xe ở phía tay phải của con đường hoặc ở phía bên trái của nó? Làm thế nào mà các quy tắc như vậy, như luật giao thông, lại là những xác định cho các nguyên tắc đạo đức cơ bản, tôi nghĩ câu hỏi của tôi là vậy?

Mortimer Adler: Đúng vậy, Lloyd, thực tế và thực chất không có gì là đúng hay sai trong các quy tắc giao thông cả. Hơn nữa, chắc chắn đã có và hiện tại vẫn có những xã hội nguyên thủy mà ở đó không có bất kỳ quy định giao thông nào cả. Điều đó rất nên ghi nhớ bởi vì mặc dù vẫn có những xã hội nguyên thủy ở đó không có quy tắc giao thông gì cả, nhưng có lẽ không có, và chưa bao giờ có, xã hội nào trên thế giới ngày nay, dù nguyên thủy hay văn minh, mà lại không có quy định nào đó về việc giết người, quy định nào đó về việc trộm cắp.

Như vậy, ông thấy các quy tắc giao thông là một loại khác hẳn. Chúng không nhất thiết. Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngẫu nhiên như một xã hội phức tạp có giao thông ô tô và đô thị rộng lớn, quy định giao thông trong những trường hợp này được dựa vào lý trí và có mối liên hệ nào đó với lợi ích chung. Bởi vì chắc chắn rằng quy tắc đầu tiên của luật tự nhiên yêu cầu chúng ta làm bất cứ điều gì cần phải làm vì an toàn và an ninh và phúc lợi và bình yên của cộng đồng. Và trong một xã hội như của chúng ta đây, quy định giao thông là không thể thiếu đối với sự an toàn và an ninh của cả cộng đồng. Do đó tôi có thể trả lời, Lloyd ạ, bằng cách nói rằng mặc dù việc pháp luật yêu cầu dòng giao thông phải theo lề bên phải hoặc bên trái thì chẳng có ảnh hưởng gì, điều đó là trung tính, nhưng dòng giao thông phải được điều tiết theo cách này hay cách khác và giao thông cần được tổ chức và điều tiết theo một số cách thức xác định rõ ràng thì lại vô cùng quan trọng đối vớt tất cả chúng ta.

 

Nguồn gốc của thẩm quyền pháp định

Lloyd Luckman: Tôi nhất trí điều đó.

Mortimer Adler: Cuối cùng, tôi muốn chuyển sang một vấn đề còn sót lại mà chúng ta có thời gian để thảo luận quanh việc tạo ra luật. Nó liên quan đến nguồn gốc của quyền lực hoặc thẩm quyền lập pháp. Bất cứ ai, như tôi đã chỉ ra trước đây, cũng có thể kết luận rằng giết người là sai hoặc ăn cắp là sai dựa theo suy luận của chính mình từ nguyên tắc đầu tiên của luật tự nhiên. Nhưng không phải ai cũng có thể đưa ra những xác định về tính chất của hành vi cướp bóc và trộm cắp hoặc việc các quy tắc giao thông thì phải như thế nào. Vậy thẩm quyền và quyền hạn để đưa ra các quy định như vậy, những quy tắc xác định như vậy của pháp luật, từ đâu mà ra? Câu trả lời là nó đến từ toàn thể dân chúng hoặc từ những đại biểu hoặc đại diện của dân chúng.

Bây giờ có hai loại luật do toàn dân làm ra. Loại đầu tiên là tập quán, những phong tục lâu đời của dân chúng vốn có sức mạnh của pháp luật và thậm chí đôi khi có thể bãi bỏ luật hoặc mang lại những thay đổi trong luật. Và loại luật thứ hai do toàn dân làm ra là cái mà chúng ta gọi là luật hiến pháp, luật chính của xứ sở mà trên thực tế đã thiết lập, tạo ra, và hạn chế quyền lập pháp và thực thi luật pháp.

Tất cả các bạn, tôi chắc chắn, đều nhớ hai giai đoạn tuyệt vời trong lịch sử Anh và Mỹ. Giới quý tộc Anh, những vị quý tộc cao nhất của nước Anh, ép được Vua John ban hành một hiến chương về những quyền cơ bản của họ liên quan đến việc xét xử và trừng phạt và cách thức soạn thảo luật lệ. Đó là Đại hiến chương [Magna Carta], được ban hành vào năm 1215. Nhiều thế kỷ sau ở Philadelphia, các đại biểu tập hợp tại Hội nghị Lập hiến của chúng ta đã soạn thảo Hiến pháp Mỹ năm 1787, sau đó được giao cho nhân dân phê chuẩn. Bạn có thể thấy luật như thế là do toàn dân làm ra. Họ phải phê chuẩn các luật này. Họ là cử tri. Và những luật lệ chủ yếu như vậy làm nền tảng cho quyền làm ra luật của các nhà lập pháp, quyền áp dụng luật của thẩm phán, và quyền thực thi luật của viên chức hành pháp.

Theo cách hiểu này về cách thức làm ra luật, một đạo luật chỉ là một luật trên danh nghĩa, nếu nó không đáp ứng hai điều kiện. Thứ nhất, nó chỉ là một luật trên danh nghĩa nếu nó không bắt nguồn từ luật tự nhiên theo một trong hai cách, hoặc như luật về tội sát nhân hoặc trộm cắp bắt nguồn từ luật tự nhiên, hoặc như các quy định giao thông. Và thứ hai, nó chỉ là luật trên danh nghĩa nếu nó không được soạn thảo ra theo đúng cách hoặc bởi toàn dân hoặc bởi các đại diện của dân, có thẩm quyền được cấu thành một cách thích hợp.

Điểm quan trọng nhất tôi có thể nêu ra là, điều kiện thứ hai tự nó không đảm bảo sự công bằng của luật, vì ý chí của khối đa số vẫn thường có thể sai lạc như ý chí của một kẻ chuyên chế hay bạo chúa. Do đó chúng ta phải đối mặt với câu hỏi mà chúng ta sẽ xem xét vào tuần tới, Vị thế cuối cùng của công bằng trong luật pháp là gì? Điều gì sẽ xác định lúc nào thì luật không chỉ được soạn thảo đúng cách mà còn công bằng trong nội dung? Và tôi hy vọng chúng ta có thể dành trọn buổi thảo luận cuối cùng của chúng ta về luật pháp vào tuần tới cho vấn đề này. Chúng ta không những sẽ xem xét những câu hỏi chính về tính công bằng của luật, mà còn tìm hiểu mối quan hệ của công lý và công bằng và cách thức cải thiện luật pháp, cách từng bước tạo ra một sự hoàn thiện cho luật pháp theo hướng ngày càng công bằng hơn.

 

Chương 39

Tính công bằng của luật

Hôm nay chúng ta sẽ xem xét công bằng trong mối liên quan với luật. Tôi chắc các bạn cũng nhận ra rằng chúng ta không thể bao quát toàn bộ vấn đề công bằng. Thế nhưng, mặc dù chúng ta sẽ chỉ xem xét công bằng trong mối liên quan với luật, với việc áp dụng luật, việc soạn thảo luật, và công bằng trong chính bản chất của luật, việc cố gắng trả lời câu hỏi chung, công bằng là gì, thì vẫn rất hữu ích.

Hầu hết mọi người đều tránh câu hỏi đó, giống như họ tránh né câu hỏi Chân lý là gì vậy. Giống như Phongxiô Philatô [Latinh, Pontius Pilatus], họ nghĩ họ không có thời gian chờ đợi câu trả lời. Nhưng Philatô đã sai cũng như tất cả những ai nghĩ rằng thật khó trả lời những câu hỏi như Công lý là gì, Chân lý là gì. Không có câu hỏi nào trong số đó là câu hỏi khó; câu hỏi khó là, “Điều gì là đúng trong trường hợp cụ thể này?”, “Tuyên bố này là đúng hay sai?”, “Luật này công bằng hay bất công?” Đó là những câu hỏi khó. Còn với câu hỏi, “Công bằng là gì?” tôi nghĩ chúng ta có thể trả lời nhanh chóng.

Câu trả lời nổi tiếng nhất cho câu hỏi Công bằng là gì đã được đưa ra bởi một hoàng đế La Mã hoặc bởi những người đã viết một cuốn sách cho ông ta. Hoàng đế ấy là Justinianus. Tôi có sẵn ở đây cuốn The Institutes of Justinian [dịch từ Institutiones Justiniani - Các bình luận luật học của Justinianus], cuốn sách mà Justinianus yêu cầu những nhà luật học lớn của Roma biên soạn. Nó được cho là một tổng tập luật pháp La Mã. Bản dịch quen thuộc cho câu mở đầu của Quyển I là, “Công bằng là ý chí nghiêm túc và liên tục nhằm đưa đến cho mỗi người những gì họ đáng được hưởng.” Tôi muốn sửa bản dịch này cho tốt hơn một chút: “Công bằng là ý chí bất biến và liên tục nhằm đem lại cho mỗi người những gì thuộc về họ.”

Đó có phải là định nghĩa về công bằng không? Chỉ một phần thôi, phần kia của định nghĩa về công bằng là xét theo nguyên tắc bình đẳng. Công bằng nằm trong việc đối xử bình đẳng với những người đồng đẳng và đối xử với những người không đồng đẳng tương xứng với mức độ bất bình đẳng của họ.

Tôi nghĩ, mọi người đều hiểu rằng chắc chắn hầu hết các bậc cha mẹ đều làm như thế trong quan hệ với con cái của họ và hầu hết trẻ em đều làm thế trong mối quan hệ với cha mẹ của chúng. Ví dụ, trong một gia đình có hai đứa con, ta thấy hết sức rõ ràng rằng – có phải không? – nếu một đứa làm điều gì đó và bị phạt theo cách nào đó, thì tính công bằng đòi hỏi rằng nếu đứa kia làm điều tương tự, nó sẽ bị trừng phạt y hệt như vậy. Và nếu cha mẹ không cư xử như vậy, đứa bé đó lập tức gào lên phản đối sự bất công. Hoặc loại công bằng khác trong gia đình là cho phép một đứa thức muộn hơn đứa kia nếu đứa này lớn tuổi hơn đứa kia, hoặc nếu hai đứa con ở hai độ tuổi khác nhau thì khi cho tiền tiêu vặt, đứa nhỏ hơn sẽ nhận khoản tiền nhỏ hơn, và đứa lớn hơn sẽ nhận một khoản lớn hơn. Đây là kiểu công bằng cho phép hai kẻ bất đồng đẳng hưởng điều gì đó tương ứng với sự bất đồng đẳng của chúng. Bạn hiểu ngụ ý của tôi khi nói rằng theo nghĩa cơ bản này, mọi người đều biết công bằng là gì mà. Chắc chắn, mọi đứa trẻ cũng biết công bằng là gì.

Lloyd Luckman: Bây giờ tôi sẽ đồng ý rằng trẻ em hiểu công bằng là ra sao theo như ông giải thích. Và tôi chắc chắn rằng một số người lớn cũng hiểu vậy, nhất là những người lớn chưa học qua đại học và chưa được nghe các giáo sư nói rằng ta không thể hiểu công bằng là gì hoặc định nghĩa nó. Tuy nhiên, tôi nghĩ ông sẽ đồng ý với tôi rằng mối quan hệ giữa công bằng với luật pháp không phải là vấn đề đơn giản. Đó là một câu hỏi rất khó và nó khiến tôi nhớ lại, mà ông cũng có thể nhớ luôn, câu hỏi mà chúng ta nhận được của bà Nino Gutadarro.

Mortimer Adler: Phải, tôi nhớ chứ Lloyd.

Lloyd Luckman: Bà ấy ở Palo Alto và gởi cho ông câu hỏi sau, “Làm thế nào mà ai đó có thể nói rằng luật pháp là công bằng? Theo cách nghĩ của tôi, luật pháp xấu hoặc không công bằng có thể hiện hữu và được tạo ra, do đó tôi cho rằng luật nên được đo lường qua tính công bằng. Quan điểm của ông về câu hỏi này thì sao?”

Mortimer Adler: Quan điểm của tôi, thưa bà Gutadarro, cũng giống như của bà, cụ thể là, luật nên được đo lường qua tính công bằng, chứ không phải luật là công bằng. Nhưng tôi buộc phải nói với bà rằng những người khác không đồng ý với điều này. Có một quan điểm ngược lại, hoàn toàn ngược với quan điểm của bà với tôi đây.

Vì vậy, hãy bắt đầu bằng cách đối mặt với vấn đề cơ bản này về mối quan hệ giữa luật với tính công bằng. Trước tiên, hãy xem xét quan điểm cho rằng luật là công bằng hoặc luật là thước đo sự công bằng. Đây là quan điểm của những người coi luật là biểu hiện của ý chí tối cao hoặc cho rằng luật là điều làm hài lòng quân vương hay kẻ cai trị và không có liên quan gì với luật tự nhiên.

Theo quan điểm này, luật là thước đo công bằng trong hành vi của con người. Hành vi của con người là công bằng hoặc bất công tùy theo chúng phù hợp thế nào với luật lệ tại một xứ sở cụ thể. Và theo quan điểm này, những việc sai trái mà con người ta thực hiện được gọi, như luật sư nói, là mala – tôi dùng thuật ngữ Latinh, mala prohibita, hoặc những việc sai trái vốn bị coi là sai trái chỉ vì luật cấm làm những việc ấy. Như vậy, theo quan điểm này, giết người cũng giống như lái xe ở phía bên trái của con đường. Giết người là sai vì có luật cấm giết người. Lái xe ở phía bên trái con đường là sai bởi vì có luật cấm lái xe ở phía bên trái con đường. Và nếu không có luật cấm giết người và không có luật cấm lái xe theo lề bên trái của con đường thì hai việc ấy chẳng hề sai trái. Cả hai đều là những việc sai trái trên cùng một bình diện, những việc bị coi là sai trái do một số quốc gia nào đó cấm đoán chúng như một vấn đề pháp luật.

Bây giờ quan điểm ngược lại là cái tôi chọn và cũng là cái mà tôi nghĩ bà cũng chọn, thưa bà Gutadarro, cũng như những người khác, tất cả những ai, ví dụ, nghĩ rằng luật được căn cứ vào lý trí và rốt cuộc nó bắt nguồn từ luật tự nhiên. Những người theo quan điểm này nghĩ rằng công bằng thì cao hơn luật và là thước đo của luật và do công bằng đo lường luật, nên luật có thể trở thành công bằng hoặc bất công. Một số luật phù hợp với các nguyên tắc công bằng và một số luật thì không và chúng là những luật bất công.

Nói cách khác, quan điểm thứ hai này thêm điều gì đó vào toàn cảnh. Nó nói rằng có sự công bằng cao hơn luật và chính nguyên tắc về công bằng sẽ xác định luật nào là công bằng và luật nào là bất công. Và do việc bổ sung này, điều gì đó trong toàn cảnh đã bị thay đổi. Hãy cho tôi thêm một thuật ngữ Latinh mala per se, nó có nghĩa là, không là sai trái chỉ vì bị luật cấm, mà nó sai trái trong tự thân nó. Theo quan điểm thứ hai này, có hai loại hành vi sai trái. Những việc như lái xe ở bên trái con đường, bị coi là hành vi sai trái vì luật cấm làm việc đó và những việc khác như giết người không chỉ là sai trái do luật cấm, mà nó sai trái tự bản chất, sai trái theo chính bản chất của tính công bằng.

Hơn nữa, theo hai quan điểm này về luật trong mối quan hệ với công bằng, quan điểm thứ nhất phủ nhận các quyền tự nhiên. Mọi quyền con người là các quyền luật định, do các nhà nước chuẩn cấp và có thể bị nhà nước lấy đi. Nhưng theo quan điểm thứ hai, quan điểm cho rằng công bằng là thước đo của luật, bên cạnh các quyền luật định ta có những quyền tự nhiên cố hữu và bất khả chuyển nhượng.

Trong buổi nay tôi muốn đi tới quan điểm thứ hai, quan điểm cho rằng công bằng là tiêu chuẩn hay thước đo của luật và xác định luật nào là công bằng và luật nào bất công. Và trong khi phân tích, tôi muốn đi qua ba mối quan hệ khác nhau. Tôi muốn đầu tiên xem xét công bằng trong việc áp dụng luật, việc thực thi luật bởi các tòa án; thứ hai, ta sẽ xem xét công bằng trong việc soạn thảo luật; và thứ ba, ta sẽ xem xét công bằng trong chính bản chất, chính nội dung, của các bộ luật.

 

Công bằng trong việc áp dụng luật

Hãy để tôi bắt đầu bằng cách xem xét công bằng trong việc áp dụng luật, vì tòa án quyết định các vụ tố tụng và áp dụng luật cho các trường hợp cụ thể. Công bằng là gì? Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều biết công bằng là gì trong mối quan hệ này; công bằng nằm trong sự sòng phẳng [không thiên vị] và bình đẳng, đối xử với mọi cá nhân như nhau, không trọng ai hơn ai, không thiên vị nhóm, không thừa nhận các giai cấp đặc quyền trước pháp luật. Tất cả các bạn đều nhớ dòng chữ được khắc vào đá trên nóc Tòa án Tối cao Mỹ. Nó nói rằng, “Công bằng đồng đều theo luật.” Điều đó có nghĩa là tất cả mọi người đến trước pháp luật như những người bình đẳng, để được đối xử bình đẳng. Đấy là công bằng trong việc thực thi luật.

Một cách khác để nhớ điều này là hình dung lại bức tượng của thần công lý, của thần công lý mù cầm thanh kiếm và cây cân. Bức tượng nổi tiếng này cho thấy cái cân, thanh kiếm, và tấm vải bịt mắt của thần công lý. Cho phép tôi nói ngắn gọn về ba biểu tượng đó. Cái cân trong tay thần công lý đại diện hoặc tượng trưng cho nguyên tắc bình đẳng hoặc cân bằng. Thanh kiếm đại diện cho lực cưỡng chế của luật trong việc thực thi sự công bằng. Và tấm khăn bịt mắt thần công lý là quan trọng nhất; vì tấm khăn bịt mắt đại diện cho sự bất thiên vị của công bằng pháp lý, việc đối xử với mọi người như nhau. Chính sự bất thiên vị của công bằng này mang lại cho chúng ta nguyên tắc rằng không ai được là quan tòa trong vụ tố tụng của chính mình; bởi vì không ai có thể vô tư trong vụ kiện cáo của chính mình, không ai có thể “mù” khi thực thi công lý trong vụ kiện của chính mình.

 

Công bằng trong việc soạn thảo luật

Bây giờ ta hãy đi tới điểm thứ hai mà chúng ta muốn thảo luận, công bằng trong việc soạn thảo luật. Và nguyên tắc ở đây là, luật được soạn thảo một cách công bằng nếu nó được tạo ra bởi đúng người, đúng cách, và đúng mục đích. Đâu là mục đích đúng của việc soạn luật? Lợi ích chung, không phải tư lợi của bất kỳ người nào. Ai là người đúng thực cho việc soạn thảo luật? Chúng tôi đã trả lời điều đó trước đây: hoặc toàn dân hoặc những người đại diện của họ được lập ra một cách thích đáng. Nói cách khác, để soạn ra luật một cách đúng thực, nó phải được thực hiện bởi bộ phận thẩm quyền được lập ra một cách thích đáng. Và luật sẽ được soạn ra một cách đúng thực như thế nào? Ấy là khi nó được thực hiện theo quy trình pháp lý chuẩn mực hoặc trong khuôn khổ thẩm quyền và quyền hạn được hiến pháp trao cho người soạn luật. Theo nghĩa này, bạn có thể thấy rằng ít nhất trong chính quyền của nước Mỹ chúng ta, và bất kỳ chính quyền hợp hiến nào khác, tính hợp hiến của một đạo luật gần giống như nói tới tính công bằng của một đạo luật. Nó được soạn thảo đúng cách nếu nó được làm ra một cách hợp hiến. Nếu vi hiến, nó là một luật gần như phi pháp hoặc một luật bất công.

Nhân tiện, Lloyd, điều này làm tôi nhớ đến một câu hỏi rất hay về điểm này, tôi nghĩ đó là câu của ông Willard Knott, phải không?

Lloyd Luckman: Vâng, mình có câu đó. Nhưng câu đó rất dài. Ông có muốn tôi chỉ đọc những phần mà tôi nghĩ có liên quan đến điểm ông đang trình bày không?

Mortimer Adler: Làm vậy đi. Tôi nghĩ điều đó sẽ giúp chúng ta đáng kể.

Lloyd Luckman: Vâng, ông Willard M. Knott viết thư và bắt đầu bằng cách nói, “Theo tôi hiểu những gì ông nói thì luật pháp là quy ước cư xử của con người, có lực cưỡng chế vốn được xác lập vì lợi ích chung của đa số người dân hoặc bởi các đại diện được chuẩn nhận đúng cách của họ.” Và tôi nghĩ đó là định nghĩa của ông.

Mortimer Adler: Phải, đúng thế.

Lloyd Luckman: “Nhưng có vẻ như với tôi,” ông Knott viết tiếp, “theo định nghĩa này mà không được chuẩn nhận, thì các luật Jim Crow[1] của các bang miền Nam hồi đó là hoàn toàn phù hợp. Người da trắng chiếm đa số và những luật này là sự thể hiện trực tiếp những cái mà họ cảm thấy phục vụ cho lợi ích chung.” Và trước khi ông trả lời điểm này, ông Knott còn đề nghị rằng ta cần xem xét một điều gì đó khác, cụ thể là các quyền tự nhiên và bất khả chuyển nhượng của con người. Và ông ấy nói, “Có những quyền theo nghĩa tuyệt đối vốn không thể bị thay thế bằng phiếu bầu hoặc bằng vũ lực. Nếu một luật bắt nguồn từ bất kỳ nỗ lực nào nhằm hủy bỏ các quyền này hoặc vi phạm chúng, thì bản thân luật đó sẽ trở nên bất công mặc dù nó có thể đã được thông qua bởi đa số phiếu bầu.” Bổ sung vào nhận xét này, ông ta nói, “Tôi cảm thấy rằng khái niệm về quyền con người tuyệt đối áp đặt những hạn chế đối với luật do con người làm ra là một trong những bí quyết cơ bản cho sự thành công của thử nghiệm kiểu Mỹ mặc dù chúng ta không phải lúc nào cũng tuân theo nguyên tắc này như lẽ ra nên làm.”

Và đó là điều tôi muốn ông xem xét vào lúc này.

Mortimer Adler: Cho phép tôi đính chính với ông chỉ ở một điểm thôi, ông Knott ạ. Trong định nghĩa về luật, chúng ta đã nói về luật do toàn dân hoặc đại diện của họ soạn ra. Không có tham chiếu nào như vậy đối với quy tắc đa số. Tuy nhiên, bên cạnh đó, thưa ông Knott, tôi thấy có vẻ ông đang dựa trên một cơ sở rất vững chắc. Một đạo luật có thể được soạn thảo đúng trình tự, bởi đúng người và theo đúng cách. Nếu quy tắc đa số lại là cách thức để các đại biểu hoặc đại diện hoạt động, thì đó là cách thức đúng; nó là cách thức hợp hiến. Và một luật như vậy, mặc dù được soạn thảo hợp hiến, vẫn có thể, như ông chỉ ra, bất công trong thực chất vì nó vi phạm một số quyền thực sự tự nhiên, cố hữu, hoặc bất khả chuyển nhượng. Tất nhiên, trong trường hợp đó, thưa ông Knott, nếu nó vi phạm một quyền tự nhiên, luật sẽ không phục vụ lợi ích chung. Khi nó chống lại các quyền tự nhiên của con người, khi nó không phù hợp với công bằng tự nhiên, luật cũng sẽ đi ngược lại lợi ích chung.

 

Công bằng trong thực chất của luật

Dường như với tôi, Lloyd à, câu hỏi của ông Knott đã dẫn chúng ta đến chủ điểm cuối cùng về công bằng của luật, ấy là các tiêu chuẩn để chúng ta xác định xem luật ấy là công bằng hoặc bất công về thực chất. Tuy nhiên, trước khi đi đến điểm cuối cùng đó, tôi muốn quay trở lại với điều tôi đã nói hồi nãy, khi bàn về việc áp dụng luật. Chúng ta đã nói rằng luật phải được áp dụng một cách công bằng và không thiên vị cho các trường hợp. Nhưng có một vấn đề trong việc áp dụng luật mà tôi muốn nói nhưng lúc nãy lại quên mất.

Ta có vấn đề về công lý. Người ta thường nói rằng tính công bằng nghiêm ngặt trong việc áp dụng pháp luật, tức áp dụng luật một cách nghiêm ngặt cứng nhắc cho vụ việc, có thể đi tới sự bất công lớn hơn so với việc đừng áp dụng luật gì cả. Vấn đề là ở chỗ đôi khi các luật tổng quát lại không đúng như nhau cho mọi trường hợp. Và điều quan trọng là phân biệt trường hợp này với trường hợp đó. Và đôi khi, như người ta thường nói, đem lại công bằng bằng cách không áp dụng luật cho vụ án.

Phát biểu nổi tiếng nhất về điều này, xin nói thêm, một phát biểu mà mọi luật sư đều biết và mọi sinh viên theo môn này đều nghiên cứu, thì nằm trong Ethics của Aristotélēs, trong quyển bàn về công bằng, chương nổi tiếng về bình đẳng, trong đó Aristotélēs nói, “điều hợp tình hợp lý thì chính đáng, nhưng không chính đáng về mặt pháp lý mà tựa như một sự điều chỉnh trong công bằng pháp lý. Lý do,” ông nói, “là ở chỗ mọi luật đều phổ quát. Nhưng với một số việc ta không thể đưa ra một phát biểu phổ quát mà lại luôn đúng. Trong những trường hợp đó, ta cần phải phát biểu một cách phổ quát nhưng không thể làm như vậy một cách chính xác, luật thì xét tới các trường hợp thông thường, mặc dù nó không phải là không biết đến khả năng phạm lỗi. Vì vậy, khi luật phát biểu một cách phổ quát và các trường hợp phát sinh từ đó vốn không được bao hàm trong phát biểu phổ quát, thì lúc đó,” Aristotélēs nói, “ở chỗ nào mà nhà lập pháp không dự trù sẵn được cho ta và đã phạm lỗi sai do quá đơn giản hóa vấn đề, ta hoàn toàn đúng khi sửa chữa chỗ khiếm khuyết đó, nghĩa là, phát biểu những gì mà chính nhà lập pháp hẳn sẽ nói nếu ông có mặt trước trường hợp này. Ông ta hẳn sẽ sắp đặt luật theo cách đó nếu ông ta biết được tình huống đó. Từ đó ta thấy,” Aristotélēs nói, “điều hợp tình hợp lý thì chính đáng và tốt hơn tính công bằng chỉ theo một kiểu, không tốt hơn công bằng tuyệt đối, nhưng tốt hơn so với lỗi sai vốn phát sinh từ sự tuyệt đối trong việc áp dụng công lý trong trường hợp này. Đây là bản chất của sự hợp tình hợp lý, một sự điều chỉnh luật ở chỗ nó bị khiếm khuyết vì tính tổng quát của nó.”

Bây giờ hãy để tôi nối tiếp một lần nữa ở nơi ông Knott đã dẫn chúng ta tới, vấn đề công bằng trong chính thực chất của luật pháp. Ở đây tiêu chuẩn có hai khía cạnh. Thứ nhất, có một tiêu chuẩn về tính bất thiên vị ngay trong cách diễn đạt luật và trong cách trình bày diễn giải luật. Thứ hai, tiêu chuẩn về các quyền tự nhiên yêu cầu rằng luật phải phù hợp với quyền tự nhiên.

Hãy để tôi minh họa cho tiêu chuẩn đầu tiên. Ta hãy tạm giả sử rằng các luật hình sự của chúng ta đã trừng phạt những tội nhẹ một cách khắc nghiệt hơn và lại nương tay với những tội nghiêm trọng hơn. Hoặc giả sử rằng hai tội phạm, một tội trong đó thì nhẹ và một tội rất nặng và nghiêm trọng, nhưng cả hai đều bị trừng phạt như nhau. Mọi người, tôi nghĩ, sẽ nhận ra sự bất công của một luật như vậy trong nội dung. Nó chỉ công bằng khi những hình phạt tương xứng được tuyên cho các tội với độ nặng nhẹ khác nhau.

Hoặc ta hãy xem xét một lát vấn đề thuế khóa, luật thuế thu nhập. Luật thuế thu nhập lũy tiến mà chúng ta coi là công bằng hơn thuế thu nhập cố định đồng nhất bởi vì chúng ta có xu hướng nghĩ rằng những người có tài sản lớn hơn thì có điều kiện sống tốt hơn và phải có khả năng đóng thuế cao hơn những người có thu nhập thấp hơn. Vì vậy, sự cân đối lũy tiến của thuế, của số tiền nộp thuế cân đối với khối tài sản được chúng ta xem là một quy định hợp pháp, công bằng. Hoặc hãy xem vấn đề quân dịch. Ở đây chúng ta coi là bình đẳng, bình đẳng đơn giản, khi mọi thanh niên ở độ tuổi nào đó sẽ được đối xử như nhau trước yêu cầu mà đất nước đặt ra với họ trong việc phục vụ quân đội.

Đấy là những ví dụ về phân phối theo tỷ lệ tương xứng các phần thưởng và hình phạt hoặc sự phân phối cân xứng các gánh nặng. Kiểu phân phối gánh nặng này, đồng đều hoặc tương xứng, là cần thiết nếu ta muốn luật pháp công bằng trong chính thực chất của nó.

Bây giờ tới nguyên tắc kia, tức tiêu chuẩn đo lường tính công bằng của luật, là do các quyền tự nhiên đem lại. Khi vi phạm các quyền tự nhiên vốn có, luật trở nên bất công. Ví dụ, các luật được ông Knott nhắc tới, luật Jim Crow ở miền Nam, vi phạm quyền tự nhiên của mọi người về sự bình đẳng trong đối xử quanh vấn đề chuyên chở công cộng. Nó vi phạm quyền tự nhiên của mọi người rằng họ phải được đối xử như một con người, như nhân vị, có phẩm giá giống như mọi người khác. Vì vậy, vào thời điểm mà luật pháp cho phép chế độ nô lệ, những luật ấy là bất công vì chúng vi phạm các quyền tự nhiên rằng mọi người đều phải được đối xử như một người tự do. Và trước khi một số tu chính án được thông qua về quyền bầu cử ở đất nước này, khi có một tình trạng đầu phiếu hạn chế, khi phụ nữ, chẳng hạn, bị tước quyền đầu phiếu, quy định pháp lý đó là bất công. Đôi khi trong quá khứ khi công đoàn bị luật cấm đoán hoặc việc thương lượng tập thể bị coi là bất hợp pháp, những luật đó là bất công bởi vì công nhân có quyền, quyền tự nhiên, được liên kết trong việc theo đuổi các hoạt động lao động và thương lượng tập thể. Những quyền tự nhiên này chính là yếu tố xác định sự bất công của các quy định trước đây đối với các hành vi như thế của người lao động.

 

Việc cải thiện luật

Trong chừng mực Hiến pháp Mỹ của chúng ta chấp nhận sự tồn tại của các quyền tự nhiên gần như là nền tảng của hiến pháp, trong chừng mực mà Hiến pháp của chúng ta, qua Luật Dân quyền, thực sự khẳng định một số trong những quyền tự nhiên này, nên sẽ thật đúng khi nói rằng một đạo luật vi phạm quyền tự nhiên sẽ là một đạo luật vi hiến. Trong trường hợp này, tính vi hiến của đạo luật sẽ gần như đồng nghĩa với sự bất công của nó. Nhưng sẽ thật là sai lầm khi để cho điều đó dẫn bạn tới chỗ giả định rằng tính hợp hiến của một đạo luật và tính công bằng của nó là một và giống nhau. Lý do khiến điều đó có thể là một sai lầm là ở chỗ chính hiến pháp cũng có thể bất công. Rốt cuộc, chúng cũng là luật của con người thôi. Và các hiến pháp có thể bất công, như Hiến pháp của chúng ta, Hiến pháp Mỹ, đã mang tính bất công trước khi có những tu chính án Nội chiến[2]. Hoặc cho đến thời điểm có tu chính án về quyền bầu cử của phụ nữ khi một nửa dân số, những người xứng đáng được đối xử như công dân, mới lần đầu tiên được quyền bỏ phiếu và nhận được vị thế chính đáng như những công dân trọn vẹn trong nền dân chủ.

Điều này, tất nhiên, đặt ra toàn bộ câu hỏi về sự thay đổi và cải thiện trong luật. Nó đặt ra vấn đề làm thế nào để luật, hiến pháp, hay các luật thực định khác của con người dần dần trở nên những biểu hiện ngày càng tốt hơn cho tính công bằng qua việc trở nên ngày càng phù hợp với toàn bộ các quyền tự nhiên và các nguyên tắc của công bằng tự nhiên.

Lloyd Luckman: Vấn đề mà ông đang nêu lên, chỉ ra sự tiến bộ của các luật lệ và sự phù hợp tốt hơn của chúng với công lý gợi lên trong tôi một câu hỏi khác vốn được ông Ernest Slauge ở Burlingame nêu ra cho ông. Và ông Slauge hỏi, trước tiên, liệu có tồn tại các quyền con người thực sự phổ quát, cố hữu, và tự nhiên mà từ đó ta có thể phát triển một hệ thống luật thực định chính đáng và nhất quán hay không, hoặc phải chăng các quyền này lúc nào cũng tùy tiện và chỉ tiện lợi trong xã hội nào thừa nhận chúng.

Mortimer Adler: Tôi buộc phải lặp lại, thưa ông Slauge, rằng có hai quan điểm ở đây, hai quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau. Một số người cho rằng mọi quyền đều là quyền pháp định, rằng mọi quyền mà con người có được đều do nhà nước chuẩn cấp cho họ theo luật của nó. Và nhà nước có đủ tư cách tước đi những quyền này; tựa như họ chuẩn cấp chúng được thì họ có thể tước chúng đi. Quan điểm ngược lại khẳng định rằng có các quyền tự nhiên, các quyền không thể chuyển nhượng, rằng ngay từ đầu nó không hề do nhà nước chuẩn cấp và cũng không thể bị nhà nước tước đi. Theo quan điểm này, nhà nước là chính đáng nhất khi luật của nó thừa nhận mọi quyền tự nhiên. Và nhà nước sẽ là bất công khi luật của nó vi phạm các quyền tự nhiên.

Nhưng ta không được giả định rằng tại bất kỳ thời điểm nào, chúng ta đều có kiến ​​thức hoàn hảo về các quyền tự nhiên. Có thời điểm, ví dụ, người ta không nghĩ rằng chế độ nô lệ đã vi phạm quyền tự nhiên. Bây giờ thì chúng ta biết rằng chế độ nô lệ thực sự vi phạm quyền tự nhiên. Có thời kỳ người ta chưa biết gì về các quyền lao động. Bây giờ chúng ta biết rằng lao động có những quyền tự nhiên nhất định mà luật pháp không được vi phạm.

Tôi nói điều này đặt ra toàn bộ câu hỏi mà chiều nay chúng ta không thể đi sâu hơn nữa để tìm hiểu thêm sự tăng trưởng trong hiểu biết của chúng ta về các quyền tự nhiên, một tiến trình tăng trưởng có thể sẽ tiếp tục cho đến tận thế.

Chiều nay, như tôi thấy, chúng ta đã nêu ra nhiều câu hỏi khó mà chúng tôi không thể trả lời đầy đủ, và chúng ta thậm chí không có thời gian để chạm đến một số câu hỏi quan trọng và khó giải đáp, như câu hỏi của ông Mooney mà tôi có ở đây. Ông Mooney hỏi chúng ta nên làm gì trong việc tuân thủ một đạo luật được tạo ra một cách hợp lý theo nghĩa là nó được soạn thảo bởi các nhà chức trách theo luật định, nhưng bất công về thực chất, vì vi phạm một quyền tự nhiên nào đó. Liệu công dân có được biện minh khi không tuân theo nó hay công dân nên tuân theo nó?

Điều này khiến tôi phải nói điều gì đó mà tôi muốn nói với tất cả các bạn trong nhiều tuần rồi, tôi hy vọng rằng không ai cho rằng những cuộc thảo luận ngắn ngủi, nửa tiếng của chương trình The Great Ideas làm được nhiều hơn mức cưỡi ngựa xem hoa. Tôi phải thú nhận với bạn rằng tôi luôn cảm thấy ít nhiều không hài lòng vào cuối mỗi chương trình nửa giờ này. Và thành thật mà nói, tôi hy vọng bạn cũng cảm thấy không hài lòng vì đó là cách cảm nhận đúng. Đó là loại cảm giác kêu gọi thảo luận ngày càng nhiều hơn về Những ý niệm lớn, về những điều cơ bản mà chúng ta không thể giải quyết được trọn vẹn trong một khoảng thời gian ngắn.

Hôm nay, ví dụ, chúng ta đã phải tiếp xúc với hai ý niệm lớn bên cạnh ý niệm lớn về pháp luật: ý niệm về Công bằng và ý niệm về Quyền, nhất là các quyền tự nhiên. Và cả hai ý niệm này thực sự xứng đáng có cả một loạt buổi thảo luận dành cho chúng.

 



[1] Các luật Jim Crow: Các luật cấp bang và địa phương áp đặt phân cách theo chủng tộc tại mọi cơ sở vật chất công cộng (phương tiện chuyên chở công cộng, trường công lập, nhà hàng, nhà vệ sinh…) tại các bang miền nam nước Mỹ. Các luật này ra đời từ cuối thế kỷ XIX và tồn tại đến tận năm 1965. Tên gọi Jim Crow xuất phát từ tiết mục ca múa “Jump Jim Crow” được trình diễn bởi một nghệ sĩ da trắng hóa trang thành người da đen.

[2] tức các tu chính án 13, 14, và 15, được thông qua trong khoảng 1865-1879, năm năm sau Nội chiến, nhằm tái thiết nước Mỹ và bảo đảm quyền tự do cho toàn dân, trong đó có cựu nô lệ và con cháu của họ.

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: dinhhongphuc2010@gmail.com.
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt