Nhận thức luận | Khoa học luận

Rouseau và Hume. Phá hủy niềm tin vào sự hòa điệu tự nhiên

 

ROUSEAU VÀ HUME

PHÁ HỦY NIỀM TIN VÀO SỰ HÒA ĐIỆU TỰ NHIÊN

LESZEK KOŁAKOWSKI (1927-2009)

Nguyễn Thị Minh dịch

Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính

 


Nguồn: Leszek Kołakowski. Main Currents of Marxism: Its Rise Growth and Dissolution. Volume 1, The Founders. Chapter 1: “The Origins of Dialectic”. Translated by P. S. Falla. Oxford University Press, 1978.


 

MỤC LỤC

  1. Sự bất tất của hiện hữu người
  2. Sự tự cứu độ của Plotinus
  3. Plotinus là thuyết Plato mang màu sắc Kito giáo. Một sự truy tầm lý tính sáng tạo
  4. Eriugena và thần hệ Kito giáo
  5. Eckhart và phép biện chứng của sự thánh hóa
  6. Nicholas of Cusa. Những mâu thuẫn của Tồn tại Tuyệt đối
  7. Boehme và tính nhị nguyên của Tồn tại
  8. Angelus Silesius và Fénelon: cứu rỗi thông qua hư vô hóa
  9. Thời Khai minh. Sự hiện thực hóa của con người trong sơ đồ của chủ nghĩa tự nhiên
  10. Ruseau và Hume. Phá hủy niềm tin vào sự hòa điệu tự nhiên
  11. Kant. Tính nhị nguyên của tồn tại người và giải pháp
  12. Fichte và sự tự chinh phục của tinh thần
  13. Hegel. Tiến trình của ý thức hướng đến cái Tuyệt đối

1. Rousseau, Hume và Kant đều là những người đồng tình với sự mất niềm tin này. Rousseau tin vào nguyên mẫu của con người sống trong sự tự - đồng nhất, nhưng ông không tin là người ta có thể xóa bỏ các tác động của văn minh và quay trở lại với niềm hạnh phúc tự nhiên. Con người tự nhiên không có cảm giác tha hóa, và mối quan hệ của con người với cuộc đời không trung giới qua sự phản tư; anh ta sống một cách dễ dàng mà không phải suy nghĩ về cuộc sống, anh chấp nhận một cách vô thức tình cảnh và những giới hạn riêng của mình. Vì thế sự giao hảo của anh với những người khác phát triển tự phát, không cần có định chế đặc biệt nào bảo tồn mối giao hảo đó. Nền văn minh đưa đến sự tách rời con người khỏi chính mình và phá hủy sự hòa điệu nguyên thủy của xã hội. Nó làm cho tính ích kỉ thành phổ quát, phá hoại tình đoàn kết, và làm biến chất đời sống cá nhân thành hệ thống các quy ước, các nhu cầu giả tạo. Trong xã hội này cá nhân không thể đạt được sự tự đồng nhất, tất cả những gì cá nhân có thể làm là nỗ lực thoát khỏi sự đè nén của xã hội để chiêm ngắm thế giới một cách độc lập với tư kiến do xã hội mang đến. Sự cộng tác và tình đoàn kết với tha nhân không tước đi của cá nhân một đời sống cá thể đích thực, trong khi mối dây liên kết tiêu cực của lợi ích và tham vọng ích kỉ lại hủy diệt cả cộng đồng lẫn nhân cách đích thực. Nghĩa vụ đích thực của con người vừa là chính mình vừa là sống trong tình đoàn kết hữu hảo với tha nhân. Vì ta không thể nào phá hủy văn minh, ta phải nỗ lực thỏa hiệp: để mỗi người phát hiện ra trạng thái tự nhiên trong chính mình và giáo dục cho những người khác cùng tinh thần như vậy. Không có một quy luật lịch sử đảm bảo cho ta rằng những nỗ lực của ta sẽ dẫn tới việc hồi phục cộng đồng đích thực và rằng xã hội sẽ hồi sinh trong các cá nhân, song cũng không hẳn là không thể như thế.

2. Rousseau không dấn mình vào bất kì một biện thần luận lịch sử hay nỗ lực kết hợp cái ác vào trong thế giới với hi vọng về một trật tự hài hòa nảy ra từ những điều khủng khiếp của quá khứ. Trong mắt ông việc đoạn tuyệt với sự hòa điệu nguyên thủy là cái ác không hơn không kém, không biết lý do tại sao, không biết mục đích là gì. Không có phép biện chứng của “sự tiến triển hình xoắn ốc” để nuôi dưỡng một hi vọng bất trắc về sự cải thiện của con người.

3. Vì thế Rousseau có mô hình của riêng ông về nhân tính thực sự, song ông không chấp nhận bất cứ một lý do nào biện minh cho việc vi phạm mô hình đó. Theo quan điểm của ông, sự sa đọa của con người không phải là giai đoạn tự hiệu chỉnh trong quá trình tiến tới sự hoàn hảo. Ở phương diện này ông gần với tôn giáo bình thường hơn là với các nhà thần hệ luận theo kiểu Plato: cái ác là cái ác, nó là khiếm khuyết của con người và không có ý nghĩa bí mật nào liên quan đến lịch sử của vũ trụ. Ngược lại, có một lời mời gọi gửi đến con người, lời mời gọi có trước lịch sử và không phải do lịch sử đưa ra; thực tại tối hậu của lời mời gọi đó là một câu hỏi mở.

4. Học thuyết của Hume, đến lượt nó, lại biểu đạt sự phân đôi của hai yếu tố nền tảng khác của tư duy thế kỉ 18: các phạm trù của kinh nghiệm và phạm trù của trật tự tự nhiên. Khi các tiền đề của thuyết duy nghiệm được đưa dẫn đến kết luận logic của chúng, điều trở nên rõ ràng là ý niệm về một trật tự tự nhiên là không bảo vệ được. Nếu không có kiến thức nào ngoại trừ kiến thức được giác quan chuyển tải, và nếu dữ liệu từ giác quan (sense-data) của chúng ta không cung cấp bằng chứng cho bất kì một quan hệ nhân quả hay quy luật tất yếu nào, thì rõ ràng là tinh thần của ta không có khả năng lĩnh hội hiện thực như một điều gì khác ngoài là tập hợp các hiện tượng tách biệt. Trong trường hợp đó, ta cũng không có khả năng tri giác bất kì một trật tự tự nhiên nào để sẽ là chính đáng khi xem trật tự đó như một một đặc điểm nội tại của vũ trụ cho bằng đơn thuần là một “quy luật” theo nghĩa hẹp mang tính khoa học, tức là sự ăn khớp chủ quan trong tinh thần, để thuận tiện về mặt thực tiễn, vì các diễn trình trở đi trở lại của sự kiện. Hơn nữa, cũng không có bất cứ lý do nào để cho là ta bị ràng buộc bởi các quy tắc đạo đức có giá trị độc lập với những cảm giác đau khổ và hạnh phúc của riêng ta. Tóm lại, cả “trật tự vật lý” lẫn “trật tự luân lý” đều là những tưởng tượng vượt quá điều mà kinh nghiệm được và có thể được chuyển tải đến cho ta. Tương tự như vậy, là vô ích khi cho rằng có bất kì một tiêu chuẩn, bổn phận hay mục đích dành cho con người mà lại độc lập với dòng chảy lịch sử thực tiễn của nhân loại.

5. Hume không khẳng định tính bất tất của con người hay vũ trụ: ngược lại, khi bác bỏ bằng chứng ở tầm mức vũ trụ về hiện hữu của Thượng Đế, ông tuyên bố ta không thể biết bằng kinh nghiệm rằng vũ trụ là bất tất. Song điều này chỉ có nghĩa là vũ trụ không bất tất trong cảm giác của các nhà kinh viện, tức là không có một đặc tính nào chỉ ra rằng nó phải phụ thuộc vào một đấng sáng tạo tất yếu. Đối với các nhà kinh viện thì tính bất tất của thế giới đóng vai trò là dấu hiệu chứng minh tính tất yếu. Xem xét thế giới nơi bản thân nó thì thế giới không có gì là tất yếu, nhưng sự tất yếu phải ở đó, vì thế giới hiện hữu; sự bất tất của thế giới chỉ là cái bề ngoài, như ta thấy khi ta liên hệ nó với sự hiện hữu của Thượng Đế. Xem xét đúng như bản thân thế giới, trong mối quan hệ với Thượng Đế, thế giới là không bất tất, bởi vì không gì có thể hiện hữu do ngẫu nhiên. Vì thế khi Hume nói với ta rằng từ kinh nghiệm thì không có gì chỉ ra rằng thế giới là bất tất, ông thực sự nói rằng thế giới bất tất, tức là, không gì bắt buộc ta liên hệ nó với bất kì một hiện thực tất yếu hay tuyệt đối nào. Nói cách khác, cách nói “bất tất” chỉ có nghĩa trong quan hệ đối lập với “tất yếu”. Quan điểm của Hume là thế giới là cái mà nó là, và phản đề giữa bất tất với tất yếu không có cơ sở trong kinh nghiệm. Với Hume, vũ trụ là bất tất theo đúng như nghĩa mà Sartre dùng: nó không dựa vào bất kì một “lý do” (reason) nào, và không cho ta tìm kiếm bất kì một lý do nào.

6. Sự phê phán của Hume cuối cùng làm lung lay những nền tảng của hệ thống thế kỉ 18 dường như đã hòa giải giữa chủ nghĩa kinh nghiệm mang niềm tin vào sự hòa hợp của tự nhiên với thuyết vị lợi đạo đức học mang niềm tin rằng con người vốn được dành cho hạnh phúc, lý tính và món quà của tự nhiên là lý tính như một sức mạnh tối cao. Nếu nỗ lực của con người là để phục hồi tính hợp thức của niềm tin trong sự thống nhất và tất yếu của Tồn tại và trong một tiêu chuẩn người đích thực phân biệt với nhân tính thường nghiệm và mang sử tính, thì người ta phải tính đến những hàm ý gây choáng váng của Hume. Đây là vấn đề Kant đối mặt, và ông đã nỗ lực giải quyết.

 

Ý KIẾN BẠN ĐỌC

Mọi liên lạc và góp ý xin gửi về: phucdh@triethoc.edu.vn hoặc phuongcn@triethoc.edu.vn
Bản quyền: www.triethoc.edu.vn
Chịu trách nhiệm phát triển kỹ thuật: Công ty TNHH Công Nghệ Chuyển Giao Số Việt